Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

14 Trang «<11121314>
  • Xem thêm     

    24/03/2017, 11:10:29 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Theo Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về Tội chống người thi hành công vụ được quy định như sau:
    “1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :
    a) Có tổ chức;
    b) Phạm tội nhiều lần;
    c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
    d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
    đ) Tái phạm nguy hiểm.”
    Hành vi chống người thi hành công vụ trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan, tổ chức đó. Tội phạm này được quy định nhằm đấu tranh phòng và chống các hành vi chống người thi hành công vụ, giữ gìn trật tự công cộng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người đang thi hành công vụ.
    Đối tượng tác động của tội phạm này là người đang thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công. Người đang thi hành công vụ nói tại Điều luật này rất đa dạng, có thể là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, cá biệt cũng có trường hợp là công dân bình thường, họ được điều động thực hiện một công vụ cấp bách nào đó vì lợi ích chung cũng được xem là người thi hành công vụ.
    Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật và bị xâm hại thì hành vi của người có hành vi bị xâm hại không phải là hành vi chống người thi hành công vụ. Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thức nhiệm vụ thì không thuộc trường hợp thi hành công vụ. Do vậy, tội phạm này chỉ bảo vệ những người thực hiện nhiệm vụ công, còn trường hợp công chức thực hiện công việc vì lợi ích hoặc động cơ cá nhân thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội phạm này.
    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi, nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.
     
  • Xem thêm     

    24/03/2017, 10:54:55 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Về mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản : Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng… và người bị lừa dối không thể nhận biết được những thông tin này là  gian dối.

    Như vậy, trong trường hợp của bạn, mẹ của bạn hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi của mình mà hành vi của người này không thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối như sau: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

    Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

    Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”

    Trong trường hợp này, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện người đó ra tòa án nhân dân quận/huyện nơi người đó đang sinh sống yêu cầu tòa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi khởi kiện tại tòa, bạn cần cung cấp chứng cứ chứng minh về việc giao dịch giữa hai bên. Tòa sẽ xác minh quan hệ giao dịch đó có đúng hay không. Nếu đúng như những gì bạn trình bày, tòa sẽ tuyên bố giao dịch vô hiệu và yêu cầu bên cầm cố trả lại tài sản cho bạn.

    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi, nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    21/03/2017, 05:13:44 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, theo quy định của pháp luật lao động thì người lao đổng chỉ có thể khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động ( Phòng lao động thương binh xã hội ) hoặc khiếu nại, tố cáo đến thanh tra lao động để giải quyết. Vì 2 cơ quan này có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định tại điều 235, điều 237 Bộ luật lao động 2013. Nếu sau khi gửi đơn đến 2 cơ quan trên tiến hành giải quyết mà công ty vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ, hoặc bạn thấy quyết định của họ chưa thỏa đáng thì bạn cũng có thể gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

    Nếu công ty vi phạm các nghĩa vụ trên thì người kế toán của công ty cũng không có quyền lấy tài sản(tiền) của công ty trả tiền lương cho người lao động vì rất có thể sẽ cấu thành tội phạm, ví dụ như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định Bộ luật hình sự 1999(sửa đổi bổ sung 2009) hoặc tội Trộm cắp tài sản tùy thuộc vào dấu hiệu hành vi của bạn. Việc mức án như thế nào thì tuỳ thuộc vào thuộc tội cụ thể nào thì mới có thể tư vấn cho bạn được

    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    21/03/2017, 11:21:59 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Khi người tham gia giao thông gây tai nạn dẫn đến chết người, người gây ra tai nạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Đối với tội này, chủ thể thực hiện hành vi phải vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (ví dụ như phóng nhanh vượt ẩu, đi sai làn đường, …), hành vi vi phạm phải gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.a

    Theo thong tin bố bạn đã có hành vi vi phạm theo Điều 202 Bộ luật hình sự 1999(sửa đổi bổ sung 2009) vừa nói ở trên thì mức hình phạt cụ thể đối với Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

    “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

     2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

    a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

    b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

    c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

    d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

    đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

    3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

    4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn!

  • Xem thêm     

    16/03/2017, 05:29:30 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
    Theo Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 quy định Hình thức giao dịch dân sự là: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.”
    Căn cứ quy định trên thì giữa nhân viên bảo vệ và khách hàng đã phát sinh hợp đồng gửi giữ tài sản bằng lời nói. Việc giao thẻ (vé) gửi xe là bằng chứng chứng minh cho quan hệ này. Còn trong trường hợp không giao thẻ xe thì cũng đã phát sinh hợp đồng gửi giữ giữa các bên (hợp đồng bằng lời nói). Vậy khi mất xe thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người trông giữ tài sản sẽ như thế nào?
    Không ai muốn tài sản của mình bị mất cắp. Nhưng nếu gặp phải trường hợp này, thì khách hàng sẽ nhận được bồi thường từ nhân viên bảo vệ hoặc người trông giữ tài sản. Vì khoản 4 điều 557 Bộ luật dân sự 2015 có quy định nghĩa vụ của người giữ tài sản là “Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.”
    Như vậy, người trông giữ xe làm mất tài sản thì phải bồi thường thiệt hại, nếu khách hàng không nhận thẻ (vé) khi gửi xe: (do người trông giữ không yêu cầu lấy vé). Mặc dù lúc này đã phát sinh hợp đồng gửi giữ như đã phân tích ở phần đầu, tuy nhiên khách hàng lại thiếu bằng chứng chứng minh về vấn đề gửi xe, bởi lúc này trong tay không có vé gửi xe do người trông giữ phát hành. Và để có thể đòi được khoản tiền bồi thường này thì khách hàng phải tự mình chứng minh là có mặt tại địa điểm đó, có gửi xe...bằng hình ảnh được lấy từ hệ thống camera... Nếu may mắn ở những nơi có camera, hay có bằng chứng khác chứng minh có gửi giữ thì mới đòi được bồi thường, còn không chứng minh được thì coi như khách hàng sẽ mất luôn tài sản đó. Như vậy, khách hàng sẽ là người chịu thiệt thòi, mất tài sản một cách oan uổng.
    Bộ luật dân sự 2015 không quy định mức bồi thường cụ thể mà do các bên tự thỏa thuận với nhau. Mức bồi thường này sẽ căn cứ vào giá trị thực của tài sản mất, thời gian đã qua sử dụng...và theo sự thống nhất của các bên.
    Nếu giữa các bên không thể thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại thì bên mất tài sản có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật để đòi lại tài sản đã mất của mình.
    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.
     
  • Xem thêm     

    15/03/2017, 09:04:59 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Bạn hãy liên lạc với tôi theo số 0978994377 để cần có sự trợ giúp!

  • Xem thêm     

    14/03/2017, 11:26:05 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về phòng vệ chính đáng như sau: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

    Do đó, cô gái kia phải chứng minh được hành vi chống trả là cần thiết, tức là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua trước một hành vi xâm phạm đến thân thể của mình. Khi đã xác định hành vi chống trả là cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng. Mặc dù mức thương tích gây ra cho người kia lớn hơn mức thương tích cô gái phải chịu nhưng điều này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe đang bị đe dọa của mình.

    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    14/03/2017, 09:16:37 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Điều 104 Bộ luật hình sự quy định: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

    a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

    c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

    d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

    e) Có tổ chức;

    g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

    i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

    k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

    2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

    3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

    4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

  • Xem thêm     

    13/03/2017, 02:27:20 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, nếu cơ quan điều tra chứng minh được bạn có hành vi vi phạm đó hay không. Nếu bạn có vi phạm và gây nên dịch bệnh gây hậu quả nghiêm trọng cho người thì sẽ bị xử lý hình sự về tội làm lây lan bệnh nguy hiểm cho người quy định tại Điều 186 - Bộ luật Hình sự (phải là dịch bệnh nguy hiểm thì mới bị), cụ thể:

    1. Người nào có một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

    a) Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người;

    b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người;

    c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

    Trân trọng!

  • Xem thêm     

    13/03/2017, 12:01:46 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Để xác định có hành vi mua bán dâm hay không, cơ quan chức năng sẽ phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết. Bằng cách dựa trên các yếu tố như thông tin cá nhân người bị kiểm tra đã từng có tiền án tiền sự về hành vi này hay chưa? Tại hiện trường có những dấu hiệu như thế nào? Hay mục đích của việc quan hệ với nhau đó để làm gì?
    Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định tại Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, theo đó người có hành vi mua dâm thể bị phạt tiền đến 5.000.000 đồng.
    Câu hỏi bạn đặt ra chung chung quá nên không rõ vấn đề cần trả lời như thế nào. Việc của bạn chưa đến nỗi phải bị truy tố chịu trách nhiệm hình sự nên không cần phải lo lắng gì vì bạn không phải người bị nhiễm HIV nên không thể làm lây lan HIV được. Nếu có chăng chỉ là tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186 Bộ luật hình sự). Việc bồi thường sẽ được giải quyết theo quan hệ dân sự
    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.
     
  • Xem thêm     

    13/03/2017, 10:45:45 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm………”
    Như vậy, việc xác định tỷ lệ thương tật làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh nêu trên. Cô gái kia có thương tích là 1% không thuộc các trường hợp trên nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên nhóm người thuộc băng nhóm sẽ bị xử phạt hành chính cụ thể mức phạt tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ: “ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;”
    Việc cô gái kia cũng gây thương tích cho 1 người trong băng nhóm của họ, với thương tích là 6 % thì cũng giống như trường hợp mà tôi nêu ở trên. Việc cô gái chống trả có thể được coi là phòng vệ chính đáng Điều 15 Bộ luật Hình sự vì hành vi chống trả là cần thiết. Cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả. Khi đã xác định hành vi chống trả là cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng. Mặc dù mức thương tích gây ra cho người kia lớn hơn mức thương tích bạn phải chịu nhưng điều này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe đang bị đe dọa của mình.
    Hành vi đập vỡ chiếc điện thoại trị giá 2 triệu đồng có thể bị truy tố về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ luật hình sự như sau:
    “Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”
    Từ sự tư vấn ở trên, nếu bạn có căn cứ cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định. 
    Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. 
    Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản".
    Như vậy, bạn có thể lựa chọn nơi tố giác tội phạm. Bạn có thể tố cáo với cơ quan công an xảy ra sự việc hoặc nơi cứ trú, sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển thẩm quyền điều tra vụ án lên cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.
    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn
     
  • Xem thêm     

    12/03/2017, 10:16:53 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn có nhờ Bác xe ôm chở ra nhà xe đường chánh và đưa giây tờ nhờ thu tiền hộ của khách với số tiền là 7.000.000 vnd. ( Vì bác xe ôm này thiếu kinh nghiệm nên khi đưa giấy tờ nhờ thu tiền hộ đã không cho nhà xe kia tá gì cả chỉ đưa 1 tờ giấy cho nhà xe nhờ thu hộ tiền ) Sau khi giao máy cho khách nhà xe đã thu tiền của khách là 7.000.000 vnd và đòi cước là 700.000 vnd nhưng khách không đưa cước mà chỉ đưa số tiền là 7.000.000 cho nhà xe . Sau khi đã thu tiền của khách nhà xe đã không bàn giao lại số tiền của khách cho bạn. 
    Như vậy, bạn có thể khởi kiện nhà xe ra Tòa án có thẩm quyền yêu cầu trả lại số tiền trên theo quy định tại khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 :
    “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”
    Ngoài ra, nếu cố tình chiếm hữu, sử dụng, không trả lại tiền cho bên bạn  sau khi đã nhận được thông báo từ phía bạn và người vận chuyển, thì người cố tình chiếm hữu, sử dụng trái phép số tiền trên thì bạn Tố giác với cơ quan công an để giải quyết. Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản trên có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999(sửa đổi bổ sung 2009) quy định như sau:
    “1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn
     
  • Xem thêm     

    06/03/2017, 10:07:24 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo khoản 4 và Khoản 5 Điều 26  Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an quy định: “Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, công an cấp xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn có quyền kiểm tra trực tiếp hoặc phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức thuộc địa bàn quản lý. Khi kiểm tra được quyền huy động lực lượng quần chúng làm công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức cùng tham gia; Việc kiểm tra cư trú của Công an cấp trên tại địa bàn dân cư phải có cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Công an xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn chứng kiến.”

    Như vậy, việc Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, công an cấp xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn có quyền kiểm tra trực tiếp hoặc phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức thuộc địa bàn quản lý. Về thời điểm kiểm tra, Thông tư cũng không có quy định nào về giới hạn, do vậy việc kiểm tra có thể được tiến hành cả vào ban đêm, ngày nghỉ, ngày lễ.

    Trường hợp bị kiểm tra vào ban đêm và việc kiểm tra này tuân thủ đầy đủ các quy định về quản lý cư trú thì công dân phải chấp hành mà không được từ chối. Đây cũng là một trong những nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật về cư trú.

    Công dân có quyền yêu cầu lực lượng kiểm tra xuất trình thẻ ngành và các giấy tờ khác (nếu có) liên quan đến việc kiểm tra cư trú. Trường hợp sau khi xem các giấy tờ mà vẫn nghi ngờ thì công dân có thể điện thoại đến công an xã, phường để xác minh.

    Cũng tại Khoản 1 có quy định "Hình thức kiểm tra cư trú được tiến hành định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự" như vậy điều luật này quy định đương nhiên muốn kiếm tra định kỳ thì phải có thông báo, đột xuất thì phải có văn bản là đương nhiên. Nếu không có "văn bản" thì người dân có quyền không chấp hành việc cho kiểm tra cư trú.

    Tuy nhiên, tại Điều 22 Hiến pháp 2013 quy định Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý”.

    Tại Điều 8, Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS 2003) quy định rằng “Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.

    Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín, khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này.”

    Cũng tại Điều 140 bộ luật này quy định  việc khám chỗ ở chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định chỗ ở của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám chỗ ở cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã. 

    Nếu việc kiểm tra chỗ ở không đúng theo quy định thì sẽ bị xử lý theo Điều 124 BLHS năm 1999 quy định về tội xâm phạm chỗ ở của công dân như sau:  

    “1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Gây hậu quả nghiêm trọng.

    3.  Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm.”

    Như vậy, từ những quy định trên và các thông tin bạn đã cung cấp, bạn có thể đối chiếu với trường hợp của mình xem lực lượng kiểm tra có mạo danh, xâm phạm chỗ ở, khi thực hiện việc kiểm tra hay không. Trong trường hợp thấy việc kiểm tra này vi phạm các quy định trên bạn cần phải tố cáo hoặc tố giác hành vi này đối với cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    01/03/2017, 12:04:36 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo Điểm b, khoản 2, Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ như: “Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;” thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

    Ngoài ra tại điều 257 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 thì Tội chống người thi hành công vụ được quy định như sau:

    “1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

    d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

    đ) Tái phạm nguy hiểm.”

    Như vậy có thể hiểu hành vi chống người thi hành công vụ là bất kỳ hành vi nào nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao. Hành vi chống người thi hành công vụ ở mức độ nào đó nó sẽ bị xử lý hành chính, ở mức độ cao hơn sẽ bị xử lý hình sự. Tuy nhiên việc nhìn nhận tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi chống người thi hành công vụ ở mức cao (để xử lý hình sự) hay mức độ thấp (để xử lý hành chính) thì không có bất cứ văn bản nào quy định cụ thể.  Đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ mà bạn nêu trên nếu ở mức độ nhẹ thì xử lý hành chính; mức độ nặng thì xử lý hình sự về tội “làm nhục người khác” hoặc tội “vu khống” theo quy định tại Điều 121, 122 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là phạm tội “đối với người thi hành công vụ” (nếu không xử lý về tội “chống người thi hành công vụ”)

  • Xem thêm     

    28/02/2017, 11:32:57 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Việc bạn tranh chấp đất đai với hộ giáp ranh cho rằng có hành vi lấn chiếm đất thì những người có tranh chấp sẽ có nghĩa vụ chứng minh. Trong trường hợp các bên không thể chứng minh được do không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì tranh chấp được giải quyết theo Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ - CP quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai 2013 về Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành

    “1. Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:

    a) Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra;

    b) Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương;
    c) Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
    d) Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước;
    đ) Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
    2. Căn cứ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết việc cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành.”

    Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn yêu cầu giải quyêt tranh chấp đến UBND xã. Theo đó cán bộ địa chính xã sẽ đo đạc, xác định diện tích thực tế sử dụng đất đang tranh chấp.

    Việc người bán đất cho bạn đã làm giấy tay để làm chứng cho bên kia là đã bán cho bạn và nếu mà lấy được phần đất của em thì 2 người chia đôi. Người bán đất cho chưa có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn mà chỉ là sự thỏa thuận dân sự của cả hai bên. Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn yêu cầu giải quyêt tranh chấp đến UBND xã. Theo đó cán bộ địa chính xã sẽ đo đạc, xác định diện tích thực tế sử dụng đất đang tranh chấp và có chiều hướng giải quyết vụ việc của bạn.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    24/02/2017, 09:58:35 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Đá gà mạng (trái phép) được coi là tội tổ chức đánh bạc và tổ chức đánh bạc là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, cưỡng bức, đe dọa người khác tham gia trò chơi có được thua bằng tiền hoặc tài sản dưới bất kỳ hình thức nào. Để khởi tố vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc cần phải căn cứ vào hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc như sau:
    “1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật  này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,  thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm 
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: 
    a) Có tính chất chuyên nghiệp; 
    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; 
    c) Tái phạm nguy hiểm. 
    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”
    Theo như bạn trình bày thì bạn được thuê đang coi máy đá gà mạng dùm ông anh. Mỗi ngày giao cho bạn cầm 30 đến 50 triệu. Tiền đá gà có thể lên đến hàng trăm triêu. Đây được coi là một tình tiết để cấu thành nên yếu tố "quy mô lớn". Tiền bạc hay gì đều là của chủ , bạn chỉ làm công ăn lương. Như vậy, người tổ chức đánh bạc (chủ sòng bạc) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 249 BLHS, còn bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội tổ chức đánh bạc. Về trách nhiệm của đồng phạm, Điều 20 BLHS quy định như sau:
    Như vậy, bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội tổ chức đánh bạc, tuy nhiên tùy vào những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng của bạn, Tòa án sẽ ra một hình phạt cụ thể cho bạn.
    Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
     
  • Xem thêm     

    11/02/2017, 11:17:28 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn nêu trên đối tượng Trần Văn G có bệnh tâm thần theo thông báo của gia đình cũng như của bệnh viện chuẩn đoán. Ngoài ra Cơ quan Điều tra cũng tiến hành trưng cầu giám định đến "Viện Pháp y Tâm thần Trung ương" và kết quả giám định như sau: “Trước, trong khi phạm tội và hiện tại (thời điểm giám định) bị can Trần Văn G có bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần 10 năm 1992 có mã bệnh F21. Tại thời điểm trên bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” Như vậy, Trần Văn G là người không có năng lực trách nhiệm do mắc bệnh như vậy được gọi là người trong tình trạng hạn chế năng lực hình sự.

    Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ khi người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người có sự phát triển bình thường về tâm - sinh lý sẽ có năng lựa năng lực trách nhiệm hình sự khi đã đạt độ tuổi nhất định - tuổi chịu năng lực trách nhiệm hình sự. Năng lực này có thể sẽ không có hoặc bị loại trừ do mắc các bệnh nhất định liên quan đến hoạt động tâm thần. Người không có năng lực trách nhiệm do mắc bệnh như vậy được gọi là người trong tình trạng không có năng lực năng lực trách nhiệm hình sự.

    Điều 13 bộ luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung  có quy định về tình trạng không có năng lực Trách nhiệm hình sự:

    "1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự".

    Từ các quy định trên, để xem xét về việc có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, phải căn cứ vào kết quả giám định, kết luận về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người đó.  

    Như vậy, người bị bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì không phải là tội phạm. Bởi theo quy định thì người đó đang trong tình trạng không có năng lực năng lực trách nhiệm hình sự. Còn nếu trong trường hợp trước, trong, sau khi gây án và hiện tại, bị can (Trần Văn G) chỉ hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì vẫn phải chịu năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc hạn chế năng lực và điều khiển hành vi có thể được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi xét xử vụ án.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    01/02/2017, 08:38:20 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, chúng tôi tạm tư vấn từng vấn đề cụ thể bạn hỏi như sau:
    1. Trường hợp đã được bồi thường thiệt hại và có đơn bãi nại của người bị hại thì bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”. Toà án sẽ căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.
    Căn cứ Khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:” Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
    Bên cạnh đó, luật cũng cho phép người bị hại được quyền rút đơn yêu cầu khởi tố, cụ thể Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”. Bị cáo bị truy tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự. Tội này phù hợp với quy định trên là rút yêu cầu khởi tố của người bị hại nêu trên và không giới hạn thời điểm rút đơn yêu cầu khởi tố của kể cả tại phiên tòa xét xử phúc thẩm.
    2. Căn cứ Khoản 1 Điều 333Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo: “Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.”Như vậy, bị cáo phải làm Đơn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án và nộp đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác.
    Căn cứ Điều 346 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm như sau:
    1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
    2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
    a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
    b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
    3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.
    4. Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
    Như vậy thời hạn đã được viện dẫn tại điều luật nêu trên.
    3. Vụ việc của bạn nêu, bị cáo bị giam giữ lại tại tòa với mức xử phạt 9 tháng tù, như vậy Tòa án đã xử tại phiên Tòa sơ thẩm và có thể bị cáo đã kháng cáo để Tòa Phúc thẩm tiếp tục giải quyết(phiên tòa lần 2). Khi có sự ảnh hưởng liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân thì bị cáo có thể liên hệ với luật sư để được tư vấn, định hướng và tham gia vào vụ việc để bảo vệ bào chữa tại Tòa án nhân dân là cách nhanh nhất để đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề của đương sự, người có liên quan luôn tuân thủ quy định của pháp luật.
    Việc đầu tiên là bị cáo phải liên hệ trực tiếp với luật sư mà bản thân người liên hệ có dự định mời và hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn. Sau khi thống nhất tất cả những yêu cầu, chúng tôi sẽ nhanh chóng hoàn tất thủ tục để tham gia vào giải quyết vụ án. Người mời phải viết đơn yêu cầu luật sư bảo vệ tham gia bào chữa cho mình.
    4. Bị cáo bị tuyên phạt 9 tháng tù là tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Hình phạt tù có thời hạn là một loại hình phạt nghiêm khắc, vì người bị kết án bị tước tự do, bị cách ly với xã hội, họ phải lao động cải tạo trong trại giam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát tư pháp. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, nhưng không quy định Tòa án trừ ngay khi quyết định hình phạt hay cơ quan công an trừ trong quá trình thi hành hình phạt trong trại giam?
    Nếu đến ngày tuyên án, người bị kết án không bị tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nếu giao cho cơ quan công an quản lý tại giam trừ, thì hồ sơ thi hành án phải phản ánh đầy đủ thời gian tạm giam, tạm giữ đối với người bị kết án và việc này phải được quy định trong Bộ luật hình sự hoặc Luật thi hành án
    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.
    Ls. Vũ Văn Toàn
    Mobile: 0978 994 377
     
  • Xem thêm     

    18/01/2017, 03:08:03 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 5, Nghị định 167/2013/ND-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì Vi phạm quy định về trật tự công cộng bị Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: “Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

    Nếu bạn cho rằng hành vi xử phạt hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên không đúng bạn có thể thực hiện thủ tục khiếu nại hành vi hoặc quyết định hành chính đó theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011.  Khi đó, bạn có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì bạn khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
    Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

    Trường hợp bạn hỏi và bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi theo số ĐT: 097894377 để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    28/12/2016, 12:02:16 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1511 lần
    Lawyer

    Theo thông tin bạn cung cấp thì Tài đã bịt mặt đến trang trại tìm ông Dũng đánh để trả thù, khi đi đến trang trại thấy một người nhà bạn đang ngồi bên giếng trời nhá nhem tối nên Tài lầm tưởng người nhà bạn là ông Dũng nên đã cầm giao đè vào cổ, dẫn đến thương tích ở cổ và tay cho người nhà. Trong lúc đó ông Dũng từ trong nhà đi ra, Tài đã cầm dao đuổi ông Dũng nhưng ông Dũng, cùng người nhà tôi bỏ chạy được. Không đuổi được ông Dũng và người nhà tôi, Tài đã quay lại lán ở trang trại ngồi, lục lọi trong nhà phát hiện thấy điện thoại của ông Dũng nên Tài nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại rồi đi khỏi trang trại.

    Một số tội danh trong Bộ luật hình sự rất dễ nhầm lẫn nếu chúng ta không có cái nhìn sâu xa về nó, đặc biệt là các tội liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu

    Về tội Cướp tài sản theo Điều 133 Luật hình sự thì phải thỏa mãn hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dùng sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của nạn nhân là con người (như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém….) để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này có thể khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể đe dọa người bị hại giao nộp tài sản. Nếu như tên Tài chiếm đoạt tài sản ngay lúc đó thì đủ cấu thành tội Cướp tài sản theo Điều 133 Luật hình sự.

    Tuy nhiên, hành vi Tài quay lại lán ở trang trại ngồi, lục lọi trong nhà phát hiện thấy điện thoại của ông Dũng nên Tài nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại rồi đi khỏi trang trại thì cấu thành tội  Trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật Hình sự.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự, thì người bị thương tích hoặc bị tổn hại đén sức khỏe phải có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Theo Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Một trong các biểu hiện của tội phạm trộm cắp là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. “Chiếm đoạt” là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình. “Lén lút” là hành vi cố ý giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác; việc che giấu có thể là che giấu toàn bộ (với tất cả mọi người) hoặc công khai trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng vẫn che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản…

    Trường hợp mà bạn nói đến thì người đó chỉ bị khởi tố khi có đủ căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm. Và chỉ khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệc lực pháp luật thì người đó mới bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Việc kết tội người đó sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, quyết định dựa trên những chứng cứ thu thập được. Ngoài ra, còn phải căn cứ vào hồ sơ tài liệu, lời khai, các tình tiết khách quan của vụ án thì mới có thể làm rõ được các hành vi phạm tội cụ thể mà bạn đang hỏi ở trên.

    Trường hợp bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên hệ trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

14 Trang «<11121314>