Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

15 Trang 12345>»
  • Xem thêm     

    04/09/2021, 10:54:29 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác”.

    Trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung dấu hiệu “không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác” là dấu hiệu cụ thể hóa hành vi khách quan của tội dâm ô đối với trẻ em, đồng thời phân biệt hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi đối với các hành vi khách quan của các tội phạm về tình dục khác được quy định. Về bản chất thì dấu hiệu này không phải là dấu hiệu mô tả hành vi khách quan của tội phạm mà đây là dấu hiệu để nhà làm luật phân biệt hành vi khách quan của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và với một số hành vi liền trước hành vi “giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác” ở trong tội phạm khác. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn về hành vi dâm ô người dưới 16 tuổi như sau:

    Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục.

    Như vậy, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội dâm ô người dưới 16 tuổi khi thực hiện một trong các hành vi dâm ô trẻ em như trên có thể bị phạt tù đến 12 năm. Tuy nhiên, chủ thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là chủ thể đặc biệt. Theo đó bạn là người dưới 18 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm về hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổitheo điều luật đã được viện dẫn ở trên.

  • Xem thêm     

    15/08/2021, 09:23:34 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Tùy tính chất, mức độ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc xử lý hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Luật hình sự 2015 quy định, Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại....

    Về xử phạt hành chính, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định, người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị phạt tiền từ 1-2 triệu đồng.

    Theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

    Khi bạn phát hiện níck facebook bị hách và có dấu hiệu lừa đảo, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi người đó cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người đó và không biết người đó là ai, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở nội dung tin nhắn qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook.

  • Xem thêm     

    31/07/2021, 12:33:51 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định: Hành vi đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

    Nếu người bạn đó đã biết hành vi đánh bạc là sai trái mà cho số chủ đề số lô số đề trong việc ghi,nhận lô đề nên người đó có thể bi coi là hành vi vi phạm đánh bạc đánh bạc trái phép với vai trò đồng phạm..

    Người bạn cho số lô đề để người đánh đi đánh số lô đề đó là hành vi vi phạm, bên cạnh đó còn xuất hiện mục đích được thua bằng tiền nên ở đây có thể bị coi là hành vi đánh bạc trái phép, và người bạn đó có thể là người tổ chức đánh bạc trái phép.

    Như vậy, tùy từng hành vi của người bạn của bạn, có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tội tổ chức đánh bạc hoặc Tội đánh bạc theo quy định Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

    Nếu không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh trai bạn thì anh trai bạn sẽ bị xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

  • Xem thêm     

    19/07/2021, 10:25:00 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, facebook là mạng xã hội được thiết lập nhằm mục đích vui chơi giải trí hơn là mục đích tuyên truyền.Trong trường hợp nói xấu, đưa thông tin những điều không tốt về đồng nghiệp bạn bè trên trang cá nhân nhưng đó là những điều đúng sự thật thì không bị vi phạm. Tuy nhiên, những hành động như bóc phốt, nói xấu,.. mà sai sự thật thì những hành vi như trên có thể bị xử lý vì vi phạm pháp luật

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi nói xấu người khác trên Facebook có thể xử lý vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Về xử lý hành chính:

    Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì cá nhân có hành vi “cung cấp, chia sẽ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân khác” có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

    Về trách nhiệm dân sự:

    Đối với hành vi gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân, tổ chức khác, người vi phạm phải bồi thường chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự 2015.

    Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

    Ngoài ra, người bị thiệt hại còn có quyền buộc người vi phạm xin lỗi, cải chính công khai theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Bộ luật dân sự 2015.

    Về xử lý hình sự:

    Ngoài việc chịu trách nhiệm hành chính và dân sự, những hành vi mang tính chất nghiêm trọng sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

    Hành vi sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị xử lý hình sự với Tội làm nhục người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

    Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội làm nhục người khác: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

    …”

    Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xem xét về nội dung, mức độ, mục đích của bình luận đó có gây hoặc khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng tiêu cực đến người bị xúc phạm, nói xấu hay không?

    Vì vậy, việc bạn cần làm để tự bảo vệ mình:

    - Thu thập toàn bộ chứng cứ liên quan đến việc hàng xóm có xúc phạm bạn qua facebook

    - Gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an để được nhờ sự giúp đỡ.

  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:55:50 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì, cám ơn bạn đã tham khảo

  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:54:55 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 04:28:42 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn nêu là biện pháp phong tỏa tài khoản được cơ quan điều tra áp dụng. Phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội.

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN hợp nhất Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt có quy định các trường hợp tạm khóa và phong tỏa tài khoản thanh toán như sau:

    “3. Việc chấm dứt phong tỏa tài khoản thanh toán được thực hiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc các tranh chấp theo quy định tại khoản 2 Điều này đã được giải quyết.”

    Theo đó, thẩm quyền hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài sản của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra; của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS trong giai đoạn truy tố; của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự

    Biện pháp phong tỏa tài khoản được hủy bỏ khi có căn cứ: Đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với pháp nhân được Tòa án tuyên không phạm tội; pháp nhân phạm tội không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại;

    Trong trường hợp của bạn phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thấy không còn cần thiết tiếp tục phong tỏa tài khoản nữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

    Nếu muốn hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản, bạn phải có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trình bày nguyện vọng và chứng minh là người quản lý hợp pháp tài khoản, các gia dịch là hợp pháp. Nếu xét thấy việc hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án thì sẽ được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp này.

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 03:58:35 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Đối với việc bắt anh bạn thực hiện những hành vi mà anh không thực hiện trước khi bị đánh gục, dựng hiện trường với nội dung ép buộc người bị hại thực hiện hành vi mà bị hại không làm. Trong trường hợp này, nếu hành vi đóxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh bạn thì anh bạn có quyền khiếu nại sự việc này đến cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào Điều 34, 35, 36 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

    Để cơ quan công an mời anh bạn lên làm việc thì bạn nên viết đơn gửi khiếu nại lên Thủ trưởng công an và Viện trưởng của Viện kiểm sát cùng cấp . Trong đơn anh bạn phải ghi rõ nội dung vụ việc, những quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đề nghị với cơ quan Công an và Viện kiểm sát cần sớm đưa vụ án ra để giải quyết nhằm kịp thời đảm bảo quyền và những lợi ích hợp pháp của anh bạn.

    Khi giải quyết đơn thì thủ trưởng cơ quan điều tra sẽ có chỉ đạo để điều tra viên tiến hành mời anh bạn lên cơ quan công an giải quyết. Nếu như vấn không có kết quả thì anh bạn có thể gửi đơn lên cơ quan công an cấp trên qua đường bưu điện.Hoặc biện pháp mà nhiều người cũng thường sử dụng đề tìm kiếm sự quan tâm cho vụ việc gia đình bạn là Báo chí.

  • Xem thêm     

    09/06/2021, 11:08:38 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

    Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

    c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

    đ) Có tổ chức;

    e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

    i) Có tính chất côn đồ;

    k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân...

    Trường hợp tỉ lệ thương tật của anh bạn chưa đến 11%(chỉ bị bị 6%) nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 trên thì cũng đủ yếu tố để cấu thành tội phạm.

    Như vậy việc công an quyết định không khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp này là không đúng với quy định ở trên.

    Khi bạn có căn cứ cho rằng không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn thì bạn có quyền khiếu nại sự việc này đến cơ quan có thẩm quyền.

    Theo đó, trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền khiếu nại được khoản 1 Điều 469, cụ thể hóa: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

    Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về Các quyết đinh, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại:

    “1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này.

    2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”

    Như vậy, căn cứ vào các quy định trên Bộ luật tố tụng hình sự, nếu bạn không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, và không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát thì bạn có thể khiếu nại tiếp lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để giải quyết.

  • Xem thêm     

    03/06/2021, 10:11:06 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo như tình huống bạn kể lại, bạn bị đe dọa, chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mình trên mạng internet. Hiện nay trên các mạng xã hội như Facebook, Zalo… thấy những status có nội dung nói xấu, thóa mạ hay vu cáo nhau không phải là chuyện hiếm, kể cả nêu đích danh hoặc nói cạnh khóe xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của người khác.

    Bạn là nạn nhân bị bêu xấu trên mạng cần phải làm các bước sau:

    - Trước hết bạn cần thu thập bằng chứng thông qua việc yêu cầu Văn phòng thừa phát lại lập vi bằng những status hoặc bình luận có nội dung được cho rằng xúc phạm, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của mình. “Việc lập vi bằng cần phải thực hiện ngay sau khi phát hiện có hành vi xâm phạm, vì nếu để lâu, những thông tin đó có thể bị gỡ bỏ, xóa dấu vết

    - Trường hợp có địa chỉ của người bêu xấu, người bị xúc phạm có thể gửi thư hoặc văn bản yêu cầu gỡ ngay các status hoặc bình luận không đúng sự thật.

    Nếu yêu cầu của bạn không được thực hiện nên làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an. Theo quy định, trong thời hạn 20 ngày hoặc chậm nhất là 2 tháng, cơ quan công an phải có văn bản trả lời. Nếu kết luận của cơ quan công an xác định hành vi của người đưa thông tin lên mạng xã hội là bịa đặt thì tùy mức độ vi phạm, thiệt hại xảy ra để xử lý trách nhiệm hình sự, xử phạt hành chính người đưa thông tin.

    Nếu kết luận của cơ quan công an xác minh thông tin trên mạng xã hội là đúng, nhưng rơi vào trường hợp thuộc bí mật đời tư thì người bị xúc phạm vẫn có thể khởi kiện dân sự đòi bồi thường, buộc xin lỗi vì bị xâm phạm bí mật đời tư

    Tuy nhiên, có một thực tế là không ít trường hợp những kẻ nói xấu không dùng trang cá nhân, hay danh tính thật, mà lập một trang ảo để nói xấu, bôi nhọ người khác. Do đó, cơ quan chức năng giải quyết tin báo, tố giác tội phạm không dựa vào tên trên mạng để xác minh hành vi vi phạm, mà có nhiều biện pháp nghiệp vụ khác. Vì vậy, dù người vi phạm có sử dụng nick ảo hoặc tên người khác để che giấu thì vẫn có thể bị phát hiện, xử lý

  • Xem thêm     

    25/04/2021, 09:24:33 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng :

    “Điều 92. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

    1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự.

    3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    4. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    5. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.”

    Như vậy, trường hợp của bạn, em trai bạn mới 14 tuổi và đã có hành vi trộm cắp tài sản. theo như thông tin bạn đưa ra thì chúng tôi nhận thấy em trai bạn vi phạm vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự: “Điều 138*. Tội trộm cắp tài sản

    1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    ...............”

    Đây là trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng và đối với người đủ 14 tuổi thì không áp dụng đưa vào trường giáo dưỡng. Gia đình có lẽ cần kiên nhẫn dạy bảo em, hoặc có nhưng biện pháp cứng rắn hơn tại gia đình.

  • Xem thêm     

    20/04/2021, 10:02:51 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản, theo đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Trong hợp đồng vay tài sản tồn tại hai chủ thể của hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay, khi đến thời hạn trả lại tài sản mà các bên đã thỏa thuận thì bên vay có trách nhiệm trả tiền cho bên cho vay.

    Trường hợp bạn không trả tiền vay, chủ nợ có quyền khởi kiện ra tòa án. Nếu bạn có điều kiện trả nhưng cố tình trây ỳ hoặc có hành động bỏ trốn, chủ nợ có quyền làm đơn trình báo, yêu cầu cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm hình sự về tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

    Khi bị chủ nợ uy hiếp, tấn công hoặc xiết nợ (cưỡng đoạt tài sản), bạn cần trình báo ngay cơ quan công an nơi gần nhất; đặc biệt hạn chế có lời nói, cử chỉ mang tính kích động.

    Nếu người đòi nợ đến gây mất trật tự trị an, tấn công, làm nhục, hủy hoại tài sản hoặc lấy tài sản mang đi, con nợ có quyền làm đơn trình báo tới cơ quan công an để xem xét trách nhiệm hình sự họ về các tội danh tương ứng: Gây rối trật tự công cộng, Cố ý gây thương tíchLàm nhục người khácHủy hoại tài sản hoặc Cưỡng đoạt tài sản.

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 10:04:19 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo nguyên tắc, người có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm có trách nhiệm chứng minh vi phạm. Cá nhân, tổ chức bị xử lý có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm.

    Trường hợp của bạn có thể yêu cầu được đưa ra bằng chứng chứng minh về hành vi vi phạm thì phải cho bạn biết ngay nếu đã có hình ảnh, người làm chứng biết rõ sự việc tại đó. Nếu nhà trường không chứng minh được hành vi vi phạm thì không có quyền xử lý lỗi vi phạm đó. Nếu không chứng minh được hành vi vi phạm của bạn mà cố tình xử lý thì bạn có quyền khiếu nại nhà trường.

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 09:34:27 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 có quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    - 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

    - 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

    - 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

    - 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn kể trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nhưng nếu trong thời hạn kể trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    Như vậy, căn cứ quy định được trích dẫn trên đây thì có thể thấy việc truy nã đối với người phạm tội sẽ được thực hiện từ lúc có quyết định truy nã người phạm tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đến lúc người bị truy nã đã bị bắt hoặc ra đầu thú thì việc truy nã người phạm tội sẽ chấm dứt.

    Đồng nghĩa, đối với trường hợp truy nã bị can, bị cáo trong vụ án hình sự cũng như vậy. Trường hợp của bố bạn đã có quyết định truy nã bị can, bị cáo thì chỉ khi bị can, bị cáo ra đầu thú, trình diện hoặc bị bắt giữ thì cơ quan ra quyết định truy nã mới ra quyết định đình nã, dừng việc truy nã lại.

  • Xem thêm     

    01/04/2021, 02:07:31 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Dựa theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin giải thích như sau: Bạn phải biết được rằng đối tượng có hành vi hack facebook bạn để lừa đảo đang đăng ký thường trú ở đâu ( đối với cá nhân) hoặc trụ sở ( đối với tổ chức).. để nộp đơn tố giác tội phạm.

    Nếu không xác minh được đối tượng đó, bạn làm đơn trình báo, bạn gửi lên phía cơ quan công an gần nhất của bạn để được hỗ trợ Hoặc bạn Liên hệ với Cục cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao để được hỗ trợ tìm kiếm thông tin.

    Theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

    Khi bạn phát hiện ních facebook bị hách và có dấu hiệu lừa đảo, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi người đó cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người đó và không biết người đó là ai, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở nội dung tin nhắn qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook.

    Khi đó tùy tính chất, mức độ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc xử lý hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:44:28 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Vì bạn không nói rõ cảnh sát giao thông có khám nghiệm hiện trường hay không? Nếu có thì kết quả khám nghiệm hiện trường như thế nào? Theo kết luận điều tra thì bố bạn có vi phạm luật giao thông hay không? Tuy nhiên, với tình huống của bạn tôi có thể trao đổi với bạn như sau:

    Nếu qua quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường cũng như kiểm tra các chứng cứ có liên quan, cơ quan công an xác định người có có lỗi gây ra vụ việc này, cũng như có hành vi gây tai nạn giao thông hậu quả là làm chết người thì căn cứ vào quy định

    Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

    “Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    ..."

    Như vậy, nếu hành vi gây ra thiệt hại về tính mạng của bà vợ và gây thiệt hại về sức khỏe cho người tham gia giao thông nhưng phải có kết luận của cơ quan giao thông hoặc cơ quan điều tra về việc có lỗi tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định của pháp luật thì người có lỗi mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 nêu trên. Còn nếu xác nhận lỗi hoàn toàn do bên phía người bị thiệt hại gây ra thì người gây tai nạn không phải chịu trách nhiệm hình sự, cũng như không phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:29:52 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Khoản 7 Điều 1 Thông tư 18/2019/TT-NHNN quy định:

    Biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 (năm) lần/01 (một) ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 7 (bảy) giờ đến 21 (hai mươi mốt) giờ; không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn không có quan hệ gì với người vay và cũng không vay nợc cho nên app ứng dụng vay tiền không được gọi nhắc nợ, đòi nợ hay gửi thông tin cho bạn.

    Điểm g Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định như sau:

    Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

    Theo quy định này thì việc app ứng dụng vay tiền gọi điện quấy rối bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng. Khi app ứng dụng vay tiền gọi điện quấy rối, Bạn có thể báo doanh nghiệp viễn thông mà mình là khách hàng để được hỗ trợ hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan Công an cấp huyện để xử lý hành vi của để yêu cầu giải quyết.

  • Xem thêm     

    14/02/2021, 04:13:10 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Hành vi gây tai nạn giao thông thì tùy theo tính chất và mức độ, mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự và đồng thời trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Thứ nhất, xử lý về hình sự:

    Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ dụng 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

    “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

    Theo đó, nếu bạn tham gia giao thông mà vượt quá tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn... dẫn đến gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự  là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: chủ động sửa chữa, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,... Việc anh tài xế xe tải bất ngờ dừng xe và băng qua đường mua nước tại nơi không có biển báo, đèn tín hiệu, vạch kẻ đường giành cho người đi bộ thì cũng phải xét đến yếu tố lỗi của anh này để xác định trách nhiệm của các bên cho hợp lí và hợp pháp. Việc xác định lỗi của các bên phải phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan công an.

    Thứ hai, bồi thường thiệt hại về dân sự.

    Trường hợp có gây ra thiệt hại về sức khỏe, ngoài phải chịu trách nhiệm hình sự thì còn phải bồi thường về dân sự theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

    “1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

    a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

    b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

    c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    d) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

    Theo đó, người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác thì phải bồi thường thiệt hại trên cơ sở thiệt hại thực tế xảy ra, bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại,... Mức bồi thường sẽ do hai bên tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm là không quán năm  mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, mức bồi thường cũng phải căn cứ vào yếu tố lỗi của các bên.

    Tuy nhiên, để xác định lỗi để xảy ra tai nạn thì còn phải dựa vào quá trình thực nghiệm điều tra. Nếu đúng như bạn nói là tại thời điểm xảy ra tai nạn dừng xe sát lề đường để chỉnh túi đựng thức ăn lại thì có 1 chiếc xe đi cùng chiều tông vào đuôi xe của bạn cả 2 điều té xuống.thì lỗi dẫn đến tai nạn thuộc về bên kia. Nhưng nếu như thực nghiệm người kia  hoàn toàn có thể quan sát được xe đi đến hai bên nhưng do người kia thiếu quan sát, không giảm tốc độ khi tới thì bạn cũng có 1 phần lỗi trong vụ tai nạn (nếu bạn đỗ sai và trường hợp này xác định là lỗi hỗn hợp). Trong tai nạn giao thông lỗi của ai đến đâu thì chịu trách nhiệm đến đó. Trường hợp hỗn hợp lỗi thì hai bên đều phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả. Bên nào lỗi nhiều thì chịu trách nhiệm nhiều. Còn nếu bạn dừng xe sát lề đường để chỉnh túi đựng thức ăn mà bị xe khác tông vào đuôi xe thì lỗi hoàn toàn thuộc về người tông vào xe bạn do thiếu quan sát mà không làm chủ được tốc độ và bạn không phải bồi thường.

  • Xem thêm     

    14/02/2021, 03:50:06 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn là đã cho người cháu vay tiền, đồng thời có giấy vay nợ chứng minh điều đấy là thật. Nếu người cháu không thiện chí trả nợ gốc cũng như lãi suất theo thỏa thuận thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bạn có thể khởi kiện dân sự kiện đòi tài sản buộc người cháu phải có trách nhiệm trả tiền lại cho bạn đúng số lượng tiền gốc cũng như tiền lãi theo lãi suất ngân hàng nhà nước. Ở đây không nhất thiết là bạn phải giao kết thỏa thuận có chứng nhận của chính quyền mà chỉ cần thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và đức xã hội là thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận dân sự theo Bộ luật dân sự năm 2015.

    “Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

    1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

    2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

    Từ những lời nói thể hiện ý chí của người cháu có thái độ trở mặt và muốn chối bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì bạn hoàn toàn có thể trình báo cơ quan công an hoặc gửi đơn yêu cầu khởi tố người cháu này tới cơ quan công an điều tra cấp huyện về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 :

    “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    e) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Theo nguyên tắc giải quyết dân sự theo pháp luật của Việt Nam thì luôn khuyến khích và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, đồng thời không hình sự hóa các vấn đề dân sự. Vậy nên trong trường hợp này bạn có thể thỏa thuận lại với người cháu nếu không thỏa thuận được thì bạn hoàn toàn có quyền đưa sự việc ra trước pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bạn, đồng thời pháp luật sẽ có mức hình phạt đối với người phạm tội.

  • Xem thêm     

    08/01/2021, 09:27:44 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Với hành vi giữ tiền của công ty, bạn là nhân viên nhiều khả năng có thể bị xem xét và xử lý về mặt hình sự (tội phạm) tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và số tiền mà bạn chiếm đoạt. Nếu bạn lấy tiền của công ty mà có nói với công ty thì ở đây công ty có thể kiện dân sự đòi nợ đối với bạn. Nếu bạn ấy không nói trước với công ty, mà khi thu tiền chiếm giữ luôn số tiền đó không trả cho công ty thì công ty có thể tố cáo ra cơ quan công an để khởi tố vụ án hình sự, cụ thể ở đây có thể là tội “Trộm cắp tài sản” (Điều 173), hoặc “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 174), tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 175) hoặc Tội “chiếm giữ trái phép tài sản” (Điều 176), "Tội sử dụng trái phép tài sản" (Điều 177) theo qui định tại Bộ luật hình sự 2015.

    Tuy nhiên, cụ thể định tội danh như thế nào thì trước mắt phải xem xét kỹ về nội dung, chứng cứ, tài liệu liên quan và qua sự điều tra của cơ quan chức năng.
    Việc giải quyết nội bộ giữa bạn với công ty  hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bạn thì tùy vào hướng giải quyết mà các bên lựa chọn.

15 Trang 12345>»