Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang «<2345678>»
  • Xem thêm     

    28/03/2021, 10:52:44 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Theo nguyên tắc hai cấp xét xử thì tái thẩm không được coi là một cấp xét xử.

    Đối với thời  hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 355, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

    “Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của Bộ luật này”

    Như vậy, thời hạn kháng nghị của bạn là một năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được pháp luật quy định

  • Xem thêm     

    28/03/2021, 10:47:54 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Câu hỏi không đầu không đuôi của bạn rất khó trả lời

  • Xem thêm     

    08/03/2021, 09:35:58 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp này của bạn vì chưa rõ hồ sơ mà cha bạn tự ý chuyển toàn bộ thửa đất trên cho Bà bạn không có sự đồng ý và chữ ký của Mẹ và anh chị em bạn. Đến 2013 thì tòa án ra quyết định buộc mẹ bạn giao thửa đất cho B. Nếu như bạn thấy quyết định của Tòa án nhân dân không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của cá nhân thì bạn có thể làm đơn kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

    Điều 325 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định: Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này.

    Theo như pháp luật quy định thì bạn có thể viết đơn Đề nghị xem xét quyết định của Tòa án theo thủ tục Giám đốc thẩm gửi lên người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm( Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Chánh án tòa án nhân dân cấp cao hoặc Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

    Thời hạn kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm là 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, vụ án của bạn đã được xét xử và có hiệu lực quá 3 năm nên thời hiệu thời hạn để đề nghị kháng nghị Giám đốc thẩm là không còn nên bạn chỉ có thể đề nghị theo thủ tục Tái thẩm đối với vụ án.

    Điều 351 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó”.

    Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu bạn không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân thì bạn có thể làm đơn kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm, để xem xét lại quyết định của Tòa án.

  • Xem thêm     

    07/03/2021, 10:33:26 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Tại Khoản 5, Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

    “5. Diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 1/7/2014 được xác định như sau:

    a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 1/7/2014 thì diện tích đất ở được xác định là diện tích ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp;

    b) Trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này nhưng diện tích đất ở chưa được xác định theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai, Khoản 3 Điều này và chưa được xác định lại theo quy định tại Điểm b và Điểm c, Khoản 1, Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, nay người sử dụng đất có đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở hoặc khi Nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai và Khoản 3 Điều này; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích đã được xác định lại là đất ở”.

    Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở

    Tại Điều 2, Mục 47 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định:

    “Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

    47. Bổ sung Điều 72a như sau:

    “Điều 72a. Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận

    Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở theo quy định tại Điểm b, Khoản 5 Điều 24 của Nghị định này thực hiện như sau:

    1. Người sử dụng đất nộp 1 bộ hồ sơ đề nghị xác định lại diện tích đất ở tại nơi nộp hồ sơ quy định tại Điều 60 của Nghị định này.

    2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận trước đây, nếu đủ điều kiện xác định lại diện tích đất ở theo quy định tại Khoản 5, Điều 24 của Nghị định này thì trình cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cập nhật, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất hoặc gửi UBND cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã”.

    Mục 13, Khoản 6, Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định như sau:

    “Điều 7. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính

    6. Sửa đổi, bổ sung Khoản 12; bổ sung các Khoản 13, 14, 15, 16 và 17 vào Điều 9 như sau:

    "13. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

    a) Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK;

    b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp."

    Từ những quy định nêu trên bạn có thể làm đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở kèm theo hồ sơ như trên, nộp tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện để được xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

    Nếu đất bạn không đảm bảo đủ điều kiện về diện tích tối thiểu để tách thửa thì bạn phải chuyển đổi diện tích đất vườn thành đất ở để đủ điều kiện về diện tích tối thiểu, bạn có thể thực hiện thủ tục tách thửa đất. Căn cứ theo quy định tại Điều 57 Luật Đất đai 2013:

    “1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

    d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

    Đất vườn được xác định là đất nông nghiệp, đất ở là đất phi nông nghiệp, vậy bạn muốn chuyển mục đích sử dụng thì phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và phải nộp tiền sử dụng đất. Vậy bạn sẽ phải nộp số tiền sử dụng đất bằng  giá tiền chênh lệch giữa tiền sử dụng đất theo giá đất ở và tiền sử dụng theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất và giá đất sẽ do UBND tỉnh quy định. Sau khi diện tích đất vườn xin chuyển mục đích sử dụng của bạn phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của phường đã được UBND tỉnh phê duyệt.

  • Xem thêm     

    07/03/2021, 10:21:16 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Như bạn nêu thì đất của bạn đã được cấp sổ đỏ nghĩa là Nhà nước khẳng định và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của bên bạn đối với quyền sử dụng mảnh đất đó (344m2). Do đất của bạn đã có sổ đỏ nên người khác tranh chấp thì sẽ phải thương lượng với bên bạn, nếu không được thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết là tòa án nên họ (hoặc bên bạn) sẽ phải nhờ đến tòa án.

    Bạn phải xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc thực hiện thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ, căn cứ pháp lý để được cấp GCNQSDĐ của các bên và cần xác minh ý kiến của cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ để làm rõ việc CGCNQSDĐ có đúng pháp luật không. Trên cơ sở đó, mới có căn cứ công nhận quyền sử dụng đất cho bên được cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Thực tế, khi giải quyết tranh chấp, bạn phải tìm tài liệu và xác minh của cán bộ địa chính xã hoặc cán bộ Phòng Tài nguyên môi trường để làm căn cứ giải quyết và cũng phải đi xác minh thực tế tại nơi có đất tranh chấp thông qua những người cao tuổi ở địa phương đó xác nhận… Do đó, gia đình bạn cần xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc người đang sử dụng đất thực tế đã sử dụng trong thời gian bao lâu, chủ cũ đã từ bỏ quyền sử dụng đất của mình trong hoàn cảnh nào và từ thời gian nào. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền xem có căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự hay không, trên cơ sở đó mới làm căn cứ quyết định quyền sử dụng đất thuộc về người đang sử dụng đất trên thực tế.

    Trong quá trình giải quyết, tài liệu và chứng cứ liên quan đết đất là hết sức quan trọng, vì vậy bạn nên thu thập đầy đủ chúng để phục vụ cho việc bảo vệ quyền lợi của mình kể cả khi ra tòa.

  • Xem thêm     

    07/03/2021, 10:05:00 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Tại Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai 2013 quy định:

    - “Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

    - Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này”.

    Theo quy định trên, diện tích thực tế khác với diện tích trong Sổ đỏ thuộc một trong hai trường hợp sau:

    Trường hợp 1: Diện tích thực tế nhỏ hơn diện tích trong Sổ đỏ

    Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn so với:

    - Sổ đỏ (trường hợp đã được cấp Sổ đỏ);

    - So với giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 (trường hợp đủ điều kiện cấp nhưng chưa được cấp Sổ đỏ), cụ thể:

    + Giấy tờ về quyền sử dụng đất;

    + Bản án, quyết định của tòa án;

    + Quyết định thi hành án;

    + Quyết định công nhận hòa giải thành;

    + Quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo;

    + Quyết định giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014.

    Khi cấp Sổ đỏ lần đầu hoặc cấp đổi Sổ đỏ thì công nhận theo diện tích thực tế.

    Trường hợp 2: Diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong Sổ đỏ

    - Diện tích thực tế lớn hơn so với Sổ đỏ hoặc giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì được công nhận theo diện tích thực tế và không phải nộp tiền sử dụng đất.

    - Diện tích thực tế lớn hơn so với giấy tờ về quyền sử dụng đất mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Sổ đỏ.

    Xem chi tiết tại: Cấp Sổ đỏ cho diện tích tăng thêm.

    Theo quy định khi phát hiện diện tích thực tế khác với Sổ đỏ, người sử dụng đất có quyền yêu cầu cấp đổi Sổ đỏ theo thủ tục sau:

    Thủ tục cấp đổi Sổ đỏ:

    Theo điểm c khoản 1 Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP khi đo đạc xác định lại diện tích thì được cấp đổi Sổ đỏ theo thủ tục dưới đây:

    1. Chuẩn bị hồ sơ

    - Đơn đề nghị cấp đổi Sổ đỏ theo Mẫu số 10/ĐK;

    - Bản gốc Sổ đỏ đã cấp;

    Ngoài ra, khi nộp hồ sơ thì xuất trình thêm chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân.

    2. Trình tự thực hiện

    Bước 1. Nộp hồ sơ

    - Nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) hoặc Bộ phận một cửa với nơi đã tổ chức Bộ phận một cửa.

    Nơi chưa tổ chức Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Bộ phận một cửa thì nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

    - Hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) nơi có đất nếu có nhu cầu.

    Bước 2. Tiếp nhận hồ sơ

    - Cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi đầy đủ thông tin vào sổ tiếp nhận hồ sơ và trao Phiếu tiếp nhận cho người nộp hồ sơ.

    Bước 3. Giải quyết

    Bước 4. Trả kết quả

    Thời hạn giải quyết:

    - Không quá 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không quá 17 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    - Thời gian này không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã.

    Như vậy, diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ thì được công nhận theo diện tích thực tế nếu diện tích chênh lệch đó không phải do thay đổi ranh giới thửa đất và diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ do thay đổi ranh giới thửa đất thì không được cấp Sổ đỏ với diện tích đó (vì do lấn, chiếm), chỉ được xem xét cấp Sổ đỏ nếu diện tích thực tế khác với giấy tờ về quyền sử dụng đất.

    (Diện tích thực tế khác với Sổ đỏ, giấy tờ về quyền sử dụng đất mà do lỗi của cơ quan Nhà nước thì được công nhận, nếu do lỗi của người sử dụng đất thì chỉ được xem xét cấp Sổ đỏ, nếu đã có Sổ đỏ mà có hành vi thay đổi ranh giới như lấn, chiếm thì bị xử lý).

    Khi người dân phát hiện diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ thì có quyền đề nghị cấp đổi Sổ đỏ.

  • Xem thêm     

    07/03/2021, 09:56:40 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn bị mất thì theo quy định của pháp luật, chủ sử dụng quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ được cấp lại. Tại Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về việc cấp giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất như sau:

    “ 1. Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy bân nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất do thiên tai, hỏa hoạn.

    Tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đăng tin mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

    2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.

    - Về hồ sơ khi thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mất. Khoản 2 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định như sau:

    “a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

    b) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; giấy tờ chứng minh đã đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về việc mất Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó.

    Theo hướng dẫn tại Thông tư 02/2014/TT-BTC thì lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

    Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất:

    Mức thu tối đa không quá 100.000 đồng/giấy đối với cấp mới; tối đa không quá 50.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào giấy chứng nhận.

    Trường hợp giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình, cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất (không có nhà và tài sản khác gắn liền với đất) thì áp dụng mức thu tối đa không quá 25.000 đồng/giấy cấp mới; tối đa không quá 20.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào giấy chứng nhận.

    Như vậy, tùy từng trường hợp mà bạn muốn cấp đổi hay cấp lại do mất sổ đỏ thì bạn sẽ có mức chi phí tương ứng được pháp luật quy định cụ thể.

  • Xem thêm     

    06/03/2021, 09:56:26 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng đất khi có nhu cầu được phép đề nghị cơ quan có thẩm quyền cung cấp những giấy tờ chứng minh về quyền sử dụng đất của mình. Theo đó, đối với trường hợp của bạn nếu muốn được làm rõ về diện tích sử dụng đất của mình thông qua bản đồ địa chính thì bạn có thể làm đơn xin trích lục bản đồ địa chính gửi lên Ủy ban nhân dân xã, phường hoặc Văn phòng đăng ký đất đai quận huyện nơi có đất đất để được cung cấp.

    Cụ thể, điều 29 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chínhvề phân cấp quản lý hồ sơ địa chính như sau:

    Điều 29. Phân cấp quản lý hồ sơ địa chính

    1. Quản lý hồ sơ địa chính dạng số:

    a) Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính dạng số của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

    b) Đối với huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính mà chưa kết nối với cơ sở dữ liệu địa chính của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính dạng số của địa phương.

    2. Phân cấp quản lý hồ sơ địa chính dạng giấy:

    a) Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh quản lý các tài liệu gồm:

    - Bản lưu Giấy chứng nhận; sổ cấp Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư;

    - Hệ thống hồ sơ thủ tục đăng ký của các đối tượng thuộc thẩm quyền tiếp nhận, thực hiện đăng ký đất đai;

    - Bản đồ địa chính và các loại bản đồ, tài liệu đo đạc khác đang sử dụng để đăng ký, cấp Giấy chứng nhận;

    - Hệ thống sổ địa chính đang sử dụng, được lập cho các đối tượng đăng ký thuộc thẩm quyền;

    - Hồ sơ địa chính đã lập qua các thời kỳ không sử dụng thường xuyên trong quản lý đất đai;

    b) Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện quản lý các tài liệu gồm:

    - Bản lưu Giấy chứng nhận; sổ cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

    - Hệ thống hồ sơ thủ tục đăng ký của các đối tượng thuộc thẩm quyền tiếp nhận, thực hiện đăng ký đất đai;

    - Bản đồ địa chính và các loại bản đồ, tài liệu đo đạc khác sử dụng trong đăng ký, cấp Giấy chứng nhận;

    - Sổ địa chính được lập cho các đối tượng thuộc thẩm quyền đăng ký và sổ mục kê đất đai đang sử dụng trong quản lý đất đai đối với nơi chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính;

    c) Ủy ban nhân dân cấp xã (trực tiếp là công chức địa chính) quản lý bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ tiếp nhận và trả kết quả đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với các trường hợp nộp hồ sơ đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

    3) Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cho việc bảo quản hồ sơ địa chính thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương theo phân cấp.

    Như vậy, theo quy định trên thì bạn có thể yêu cầu trích lục bản đồ địa chính tại ủy ban nhân dân xã hoặc Văn phòng đăng ký đất đai của huyện đều được. Bạn có thể yêu cầu xin trích lục bản đồ địa chính tại thời điểm bạn được cấp giấy chứng nhận và bản đồ địa chính mới được cập nhật để đối chiếu về diện tích sử dụng đất của gia đình mình.

    Khoản 54, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP quy định về việc đăng ký quyền sử dụng đất đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền như sau:

    "1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

    a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;”

    Bạn có trình bày bố mẹ bạn có mua 1 mảnh đất từ năm 1991 có giấy tờ viết tay mua bán giữa 2 bên nhưng chỉ có xác nhận của tổ trưởng lúc đó. Gia đình bạn sống từ đó tới giờ và có đóng thuế đất đầy đủ từ năm 1993 đến nay với diện tích là 32 m2. Như vậy, theo quy định trên gia đình bạn sẽ được thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP mà chỉ có giấy chuyển nhượng viết tay trước năm 2008.

    Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định thì theo Điều 8 Thông tư 24/2014/TT- BTNMT gia đình bạn cần chuẩn bị hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu gồm có:

    – Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo Mẫu số 04/ĐK)

    – Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về việc đất không có tranh chấp, sử dụng ổn định và phù hợp với quy hoạch của địa phương.

    –  Giấy tờ viết tay mua bán giữa 2 bên

    – Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có);

    – Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình.

    Hồ sơ được nộp đến Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng Tài nguyên môi trường cấp huyện. Và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho gia đình bạn.

  • Xem thêm     

    05/03/2021, 03:34:18 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Mẹ bạn đi Úc được một thời gian và chưa về được do tình hình dịch nên muốn sang nhượng cho bạn đứng tên sổ đỏ.

    Theo đó, mẹ bạn không thể về Việt Nam để thực hiện các thủ tục chuyển nhượng căn nhà là tài sản riêng của mẹ bạn thì mẹ bạn có thể Uỷ quyền cho bất kỳ ai thay mặt mẹ bạn để làm thủ tục. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản và được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, hiện tại mẹ bạn đang ở Úc và bạn đang ở Việt Nam, do đó bạn và mẹ không thể cùng đến văn phòng công chứng để lập hợp đồng uỷ quyền công chứng. Vì vậy hợp đồng Uỷ quyền giữa mẹ bạn và người được ủy quyền sẽ được công chứng ở hai nơi khác nhau theo quy định khoản 2, điều 55 Luật công chứng 2014:

    “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”.

    Theo Điều 78 Luật công chứng 2014 quy định:

    “Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam.”

    Như vậy, theo quy định trên thì mẹ bạn có thể đến Đại sứ quán của Việt Nam hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại Úc để công chứng Hợp đồng uỷ quyền sau đó gửi hợp đồng uỷ quyền đó về Việt Nam cho người mà mẹ bạn ủy quyền. Sau khi người được ủy quyền nhận được hợp đồng uỷ quyền trên thì bạn và người được ủy quyền tiếp tục đến các Văn phòng công chứng có trụ sở tại tỉnh nơi có bất động sản để công chứng một lần nữa. Sau khi đã hoàn thành thủ tục công chứng Hợp đồng uỷ quyền theo đúng quy định thì người được ủy quyền bạn có thể thay mặt mẹ bạn thực hiện các thủ tục để ký giao dịch chuyển quyền nhà đất cho bạn.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:57:53 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Cám ơn bạn, câu hỏi đã trả lời rồi.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:56:52 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại điều 317 Bộ luật dân sự 2015 có nêu: “Điều 317. Thế chấp tài sản: 1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

    2.Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.” 

    Như vậy, Vay thế chấp là hình thức cho vay có tài sản đảm bảo. Tùy từng ngân hàng và gói vay sẽ có các loại tài sản đảm bảo khác nhau, như: Sổ đỏ hoặc sổ hồng …  Khi đi vay thế chấp, người đi vay vẫn có quyền sở hữu tài sản đó, nhưng ngân hàng sẽ giữ các giấy tờ liên quan, chỉ khi người vay không thể trả được nợ thì lúc đó phải chuyển sở hữu tài sản cho ngân hàng để thanh lý trừ nợ.

    Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự 2015).

    Bạn muốn lấy sổ đỏ nhà vay ngân hàng 400tr để lấy tiền mua đất 700tr đã có sổ. Sau khi mua đất sang tên sổ thì bạn muốn lấy sổ mới thế chấp ở ngân hàng rồi lấy tiền đó đem ra nhà để lấy lại sổ đỏ nhà đã như đã vay lúc đầu. Do đó, bạn vẫn có thể thế chấp hai tài sản để được tăng số tiền vay hơn trước.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:44:28 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Vì bạn không nói rõ cảnh sát giao thông có khám nghiệm hiện trường hay không? Nếu có thì kết quả khám nghiệm hiện trường như thế nào? Theo kết luận điều tra thì bố bạn có vi phạm luật giao thông hay không? Tuy nhiên, với tình huống của bạn tôi có thể trao đổi với bạn như sau:

    Nếu qua quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường cũng như kiểm tra các chứng cứ có liên quan, cơ quan công an xác định người có có lỗi gây ra vụ việc này, cũng như có hành vi gây tai nạn giao thông hậu quả là làm chết người thì căn cứ vào quy định

    Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

    “Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    ..."

    Như vậy, nếu hành vi gây ra thiệt hại về tính mạng của bà vợ và gây thiệt hại về sức khỏe cho người tham gia giao thông nhưng phải có kết luận của cơ quan giao thông hoặc cơ quan điều tra về việc có lỗi tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định của pháp luật thì người có lỗi mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 nêu trên. Còn nếu xác nhận lỗi hoàn toàn do bên phía người bị thiệt hại gây ra thì người gây tai nạn không phải chịu trách nhiệm hình sự, cũng như không phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  • Xem thêm     

    04/03/2021, 10:29:52 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Khoản 7 Điều 1 Thông tư 18/2019/TT-NHNN quy định:

    Biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 (năm) lần/01 (một) ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 7 (bảy) giờ đến 21 (hai mươi mốt) giờ; không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn không có quan hệ gì với người vay và cũng không vay nợc cho nên app ứng dụng vay tiền không được gọi nhắc nợ, đòi nợ hay gửi thông tin cho bạn.

    Điểm g Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định như sau:

    Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

    Theo quy định này thì việc app ứng dụng vay tiền gọi điện quấy rối bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng. Khi app ứng dụng vay tiền gọi điện quấy rối, Bạn có thể báo doanh nghiệp viễn thông mà mình là khách hàng để được hỗ trợ hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan Công an cấp huyện để xử lý hành vi của để yêu cầu giải quyết.

  • Xem thêm     

    17/02/2021, 10:32:03 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ với số lượng nhiều nên việc tiếp nhận thông tin để ghi nhận lại trên sổ đỏ có thể sai sót. Các sai sót thường gặp phải như:

    - Sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người được cấp sổ

    - Sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

    - Khi thực hiện giao dịch mua bán đất không có sự đồng ý sang tên của người có quyền sử dụng đất.

    Ngoài nguyên nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sai, cũng không loại trừ trường hợp có sự nhầm lẫn giữa các bên khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tặng cho,… quyền sử dụng đất.

    Căn cứ (Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013) quy định trường hợp nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp:

    - Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên giấy chứng nhận đã cấp;

    - Cấp đổi giấy chứng nhận đã cấp;

    - Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai mà phải cấp mới giấy chứng nhận

    - Sổ đỏ đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất (cấp sai sổ cho người khác), không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp,…

    Trường hợp UBND cấp sai sổ đỏ thì UBND có thể thu hồi lại sổ đỏ đã cấp và thực hiện thủ tục đính chính và cấp lại sổ mới cho người có đất bị cấp sai theo quy định pháp luật.

    Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất trong quá trình tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng cho người khác thì phải có đơn đề nghị để được đính chính.

    Người nhận tặng cho, chuyển nhượng thửa đất có trách nhiệm hợp tác với văn phòng đăng ký đất đai trong quá trình kiểm tra, lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót.

    Việc thực hiện đổi lại thửa đất ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Do đó các bên có thể thỏa thuận với nhau, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính lại thông tin trên sổ đỏ theo đúng quy định của pháp luật.

    Do đó, gia đình bạn có đất bị cấp sổ cho người khác phải chứng minh được mình có quyền hợp pháp với mảnh đất đó (thông qua các giấy tờ tặng cho, mua bán đất, sổ đỏ, sổ hồng,…). Trường hợp nếu xảy ra tranh chấp mà không thể tự mình giải quyết, có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật như sau:

    - Thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã

    - Trường hợp hòa giải thành (kết thúc tranh chấp)

    - Trường hợp hòa giải không thành, các bên có thể khởi kiện ra Tòa.

    Trường hợp các bên đương sự như gia đình bạn có giấy chứng thì do Tòa án giải quyết.

  • Xem thêm     

    14/02/2021, 04:13:10 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Hành vi gây tai nạn giao thông thì tùy theo tính chất và mức độ, mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự và đồng thời trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Thứ nhất, xử lý về hình sự:

    Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ dụng 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

    “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

    Theo đó, nếu bạn tham gia giao thông mà vượt quá tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn... dẫn đến gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự  là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: chủ động sửa chữa, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,... Việc anh tài xế xe tải bất ngờ dừng xe và băng qua đường mua nước tại nơi không có biển báo, đèn tín hiệu, vạch kẻ đường giành cho người đi bộ thì cũng phải xét đến yếu tố lỗi của anh này để xác định trách nhiệm của các bên cho hợp lí và hợp pháp. Việc xác định lỗi của các bên phải phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan công an.

    Thứ hai, bồi thường thiệt hại về dân sự.

    Trường hợp có gây ra thiệt hại về sức khỏe, ngoài phải chịu trách nhiệm hình sự thì còn phải bồi thường về dân sự theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

    “1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

    a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

    b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

    c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    d) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

    Theo đó, người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác thì phải bồi thường thiệt hại trên cơ sở thiệt hại thực tế xảy ra, bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại,... Mức bồi thường sẽ do hai bên tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm là không quán năm  mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, mức bồi thường cũng phải căn cứ vào yếu tố lỗi của các bên.

    Tuy nhiên, để xác định lỗi để xảy ra tai nạn thì còn phải dựa vào quá trình thực nghiệm điều tra. Nếu đúng như bạn nói là tại thời điểm xảy ra tai nạn dừng xe sát lề đường để chỉnh túi đựng thức ăn lại thì có 1 chiếc xe đi cùng chiều tông vào đuôi xe của bạn cả 2 điều té xuống.thì lỗi dẫn đến tai nạn thuộc về bên kia. Nhưng nếu như thực nghiệm người kia  hoàn toàn có thể quan sát được xe đi đến hai bên nhưng do người kia thiếu quan sát, không giảm tốc độ khi tới thì bạn cũng có 1 phần lỗi trong vụ tai nạn (nếu bạn đỗ sai và trường hợp này xác định là lỗi hỗn hợp). Trong tai nạn giao thông lỗi của ai đến đâu thì chịu trách nhiệm đến đó. Trường hợp hỗn hợp lỗi thì hai bên đều phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả. Bên nào lỗi nhiều thì chịu trách nhiệm nhiều. Còn nếu bạn dừng xe sát lề đường để chỉnh túi đựng thức ăn mà bị xe khác tông vào đuôi xe thì lỗi hoàn toàn thuộc về người tông vào xe bạn do thiếu quan sát mà không làm chủ được tốc độ và bạn không phải bồi thường.

  • Xem thêm     

    14/02/2021, 03:50:06 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn là đã cho người cháu vay tiền, đồng thời có giấy vay nợ chứng minh điều đấy là thật. Nếu người cháu không thiện chí trả nợ gốc cũng như lãi suất theo thỏa thuận thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bạn có thể khởi kiện dân sự kiện đòi tài sản buộc người cháu phải có trách nhiệm trả tiền lại cho bạn đúng số lượng tiền gốc cũng như tiền lãi theo lãi suất ngân hàng nhà nước. Ở đây không nhất thiết là bạn phải giao kết thỏa thuận có chứng nhận của chính quyền mà chỉ cần thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và đức xã hội là thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận dân sự theo Bộ luật dân sự năm 2015.

    “Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

    1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

    2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

    Từ những lời nói thể hiện ý chí của người cháu có thái độ trở mặt và muốn chối bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì bạn hoàn toàn có thể trình báo cơ quan công an hoặc gửi đơn yêu cầu khởi tố người cháu này tới cơ quan công an điều tra cấp huyện về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 :

    “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    e) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Theo nguyên tắc giải quyết dân sự theo pháp luật của Việt Nam thì luôn khuyến khích và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, đồng thời không hình sự hóa các vấn đề dân sự. Vậy nên trong trường hợp này bạn có thể thỏa thuận lại với người cháu nếu không thỏa thuận được thì bạn hoàn toàn có quyền đưa sự việc ra trước pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bạn, đồng thời pháp luật sẽ có mức hình phạt đối với người phạm tội.

  • Xem thêm     

    12/02/2021, 10:50:18 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Do đó, để có cơ sở và hướng giải quyết tiếp theo, bạn nên liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà để xác thực và làm rõ xem căn nhà hiện tại có phải thuộc sở hữu của bác bạn có nguồn gốc từ bà nội hay không. Trường hợp căn nhà có nguồn gốc từ bà nội thì Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP.HCM mới là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xác định ai sẽ là đối tượng đủ điều kiện để được mua nhà thuộc sở hữu nhà nước.

    Ngoài việc liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà để được xác thực thông tin như đã nêu trên, bạn cũng có thể liên hệ UBND cấp huyện nơi có căn nhà tọa lạc để hỏi rõ hơn về tình trạng pháp lý hiện hữu của căn nhà, từ đó mới có thể xác định các bước tiếp theo trong quá trình xác lập quyền sở hữu nhà ở đối với căn nhà trên.

  • Xem thêm     

    12/02/2021, 10:38:00 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trong khu vực nghĩa trang thì mộ phần của bố bạn ở phía dưới mộ của một gia đình khác. Hộ gia đình ấy có làm ống thoát nước nhưng ống thoát nước ấy lại đổ thẳng nước xuống mộ phần của bố bạn.

    Như vậy, bạn có quyền yêu cầu gia đình kia dừng hành vi tu sửa làm ống thoát nước đổ thẳng nước xuống mộ phần của bố bạn. Nếu gia đình bạn và gia đình ông kia không thể tự hòa giải thì gia đình bạn có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã nơi có tranh chấp đất để hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật đất đai. Để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thửa đất này, gia đình bạn có quyền làm đơn gửi đến UBND cấp xã nơi có đất để hòa giải tranh chấp. Nếu không hòa giải thành thì gia đình bạn có thể làm đơn Khởi kiện ra Tòa án để giải quyết theo quy định pháp luật

     

  • Xem thêm     

    12/02/2021, 10:21:10 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Điều 211 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của cộng đồng như sau:

    “Điều 211. Sở hữu chung của cộng đồng

    1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.

    2. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

    3. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.”

    Căn cứ theo quy định trên thì ngõ, hẻm được coi là thuộc sở hữu chung của cộng đồng, không thuộc sở hữu riêng của bất kỳ nhà nào. Do đó, việc một gia đình bít luôn hẻm cụt và quay mặt ra con hẻm, để cây xanh và đậu xe lấn chiếm gần hết sân trươc nhà bạn là hành vi lấn chiếm lối đi chung trong ngõ, hẻm và là hành vi vi phạm pháp luật. Vì đất trong ngõ, hẻm là thuộc sở hữu chung nên bất kỳ người nào cũng có thể tố cáo hành vi lấn chiếm đất này.

    Khi có hành vi lần chiếm đất là ngõ đi chung thì người sử dung chung lối đi đó có thể thương lượng với người có hành vi lấn chiếm. Trong trường hợp nếu thỏa thuận không có kết quả thì có thể nhờ đến sự can thiệp giải quyết của các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Trong trường hợp này, trước tiên bạn cần phải báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, bạn thể thực hiện thủ tục tố các hành vi nói trên tại UBND cấp xã giải quyết. Hành vi trên đã vi phạm những quy định trong lĩnh vực quản lý hành chính về đất đai và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy đinh tại Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP.

    Trong trường hợp của bạn, gia đình bạn và các gia đình xung quanh đã sử dụng lối đi chung ổn định nhiều năm trước khi gia đình hàng xóm bịt ngõ, bạn và các hộ gia đình xung quanh có thể khởi kiện ra TAND quận/huyện nơi bạn cư trú để yêu cầu Tòa buộc hàng xóm trả lại lối đi cho cho các hộ ở trong. Và phải chứng minh lối đi trong hẻm chung đó là lối đi hợp lý nhất, duy nhất để ra đường chung.

  • Xem thêm     

    09/02/2021, 10:00:49 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Căn cứ Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ…

    Giá trị tài sản chiếm đoạt lên tới 3,5 triệu đồng. Vì thế, có thể thấy, người bán đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (trừ khi không đáp ứng điều kiện chủ thể như: bị thần kinh; là người chưa có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự…).

    Từ căn cứ pháp lý nêu trên thì bạn là người bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên hoàn toàn có quyền tố giác, báo tin tại cơ quan điều tra công an cấp huyện hoặc tại Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi cư trú của bạn hoặc của người lừa đảo.

    Để lấy được tiền, bạn nên làm hồ sơ lên công an điều tra cấp quận/huyện nơi cư trú để được giải quyết kịp thời. Hồ sơ gồm có:

    + Đơn trình báo công an;

    + Chứng minh thư nhân dân của bị hại (bản sao công chứng);

    + Sổ hộ khẩu của bị hại (bản sao công chứng);

    + Chứng cứ kèm theo để chứng minh (video, hình ảnh, ghi âm có chứa nguồn thông tin của hành vi phạm tội…).

105 Trang «<2345678>»