Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang <123456>»
  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:55:50 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì, cám ơn bạn đã tham khảo

  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:54:55 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì

  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:53:43 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Trường hợp gia đình bạn gặp phải là trường hợp liên quan đến quyền hạn chế đối với bất động sản liền kề theo quy định của pháp luật dân sự. Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác.

    Cụ thể, trường hợp của bạn và gia đình phía bên trong thuộc trường hợp quyền cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trong trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy. Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại.

    Như vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình, gia đình ở trong có quyền làm đơn khiếu nại gửi đến Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc quận, huyện nơi trực tiếp quản lý. Ngoài ra, nếu không cho họ cấp, thoát nuóc, họ còn có thể làm đơn khởi kiện hộ gia đình bạn về hành vi xâm phạmhạn chế quyền đối với bất động sản liền kề gửi đến Tòa án Nhân dân cấp huyện; trong đơn ghi rõ lối cấp, thoát nước qua bất động sản ở ngoài là lối cấp thoát nước duy nhất và thích hợp nhất.

    Trường hợp có thể hòa giải, thỏa thuận bồi thường với hộ gia đình có nước chảy qua.

  • Xem thêm     

    05/07/2021, 04:44:25 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Để được bồi thường về đất gia đình bạn phải có Sổ đỏ hoặc đủ điều kiện cấp Sổ đỏ

    Khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013 quy định điều kiện được bồi thường về đất khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với hộ gia đình, cá nhân như sau:

    “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này;…”.

    Như vậy, để được bồi thường về đất thì hộ gia đình, cá nhân cần đáp ứng đủ điều kiện sau:

    - Đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm.

    - Có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận (điều kiện cấp Giấy chứng nhận khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất gồm 02 trường hợp: Có giấy tờ và không có giấy tờ về quyền sử dụng đất).

    Trường hợp duy nhất không đủ điều kiện cấp Sổ đỏ vẫn được bồi thường được quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai 2013 quy định:

    “2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này”.

    Theo đó, mặc dù không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận nhưng vẫn được bồi thường về đất nếu đáp ứng đủ 02 điều kiện sau:

    - Là đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01/7/2004.

    - Người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

    Căn cứ và quy định tại Khoản 2 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đồng nghĩa với việc, đất công ích sẽ không được cấp sổ đỏ.

    Tuy nhiên, sau thời hạn sử dụng đất công ích kết thúc, người dân có thể lên UBND cấp xã, phường để làm thủ tục xin phép tiếp tục sử dụng diện tích đất này.

    Trong trường hợp diện tích đất hiện không còn thuộc diện tích đất công ích và có thể chứng minh đã sử dụng ổn định, lâu dài cũng như không có tranh chấp, gai đình bạn sẽ được phép làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 04:31:27 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đã giải quyết rồi!

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 04:29:55 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đã được trả lời rồi!

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 04:28:42 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn nêu là biện pháp phong tỏa tài khoản được cơ quan điều tra áp dụng. Phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội.

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN hợp nhất Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt có quy định các trường hợp tạm khóa và phong tỏa tài khoản thanh toán như sau:

    “3. Việc chấm dứt phong tỏa tài khoản thanh toán được thực hiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc các tranh chấp theo quy định tại khoản 2 Điều này đã được giải quyết.”

    Theo đó, thẩm quyền hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài sản của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra; của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS trong giai đoạn truy tố; của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự

    Biện pháp phong tỏa tài khoản được hủy bỏ khi có căn cứ: Đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với pháp nhân được Tòa án tuyên không phạm tội; pháp nhân phạm tội không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại;

    Trong trường hợp của bạn phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thấy không còn cần thiết tiếp tục phong tỏa tài khoản nữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

    Nếu muốn hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản, bạn phải có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trình bày nguyện vọng và chứng minh là người quản lý hợp pháp tài khoản, các gia dịch là hợp pháp. Nếu xét thấy việc hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án thì sẽ được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp này.

  • Xem thêm     

    25/06/2021, 03:58:35 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đối với việc bắt anh bạn thực hiện những hành vi mà anh không thực hiện trước khi bị đánh gục, dựng hiện trường với nội dung ép buộc người bị hại thực hiện hành vi mà bị hại không làm. Trong trường hợp này, nếu hành vi đóxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh bạn thì anh bạn có quyền khiếu nại sự việc này đến cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào Điều 34, 35, 36 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

    Để cơ quan công an mời anh bạn lên làm việc thì bạn nên viết đơn gửi khiếu nại lên Thủ trưởng công an và Viện trưởng của Viện kiểm sát cùng cấp . Trong đơn anh bạn phải ghi rõ nội dung vụ việc, những quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đề nghị với cơ quan Công an và Viện kiểm sát cần sớm đưa vụ án ra để giải quyết nhằm kịp thời đảm bảo quyền và những lợi ích hợp pháp của anh bạn.

    Khi giải quyết đơn thì thủ trưởng cơ quan điều tra sẽ có chỉ đạo để điều tra viên tiến hành mời anh bạn lên cơ quan công an giải quyết. Nếu như vấn không có kết quả thì anh bạn có thể gửi đơn lên cơ quan công an cấp trên qua đường bưu điện.Hoặc biện pháp mà nhiều người cũng thường sử dụng đề tìm kiếm sự quan tâm cho vụ việc gia đình bạn là Báo chí.

  • Xem thêm     

    15/06/2021, 10:55:11 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Vấn đề đã được trả lời

  • Xem thêm     

    12/06/2021, 11:41:08 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đã trả lời rồi

  • Xem thêm     

    11/06/2021, 10:10:51 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Theo thông tin bạn cung cấp thì nhà hàng xóm xây hàng rào, tuy nhiên hàng rào không thẳng và lấn sang đất của nhà bạn; do đó hành vi này là hành vi vi phạm pháp luật đất đai theo Khoản 1 Điều 12  Luật đất đai năm 2013:“1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.”

    Hiện nay diện tích thực tế đất của của gia đình bạn trên thực tế bị thiếu so với diện tích đất trước đây thì căn cứ theo quy định tại Khoản 7 Điều 166 Luật đất đai năm 2013:

    “Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

    7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.”

    Như vậy, khi người sử dụng đất thấy quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm phạm thì người sử dụng đất có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật đó.

    Đối với trường hợp: của bạn nhận thấy diện tích đất của mình nhỏ hơn diện tích đất được công nhận quyền sử dụng đất của mình và cho rằng hàng xóm lấn chiếm đất của mình thì gia đình bạn bạn có quyền khởi kiện hoặc khiếu nại để đòi lại phần diện tích đất bị lấn chiếm của mình.

    Thứ hai về thủ tục giải quyết tranh chấp khi hòa giải không thành.

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013:

    “Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

    Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

    1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;”

    Như vậy, nếu như cậu bạn tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã nơi cậu bạn cư trú  không thành thì cậu bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp huyện.

    Nếu số liệu trong các tài liệu (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ mục kê, bản đồ địa chính …) và số liệu thực tế đã đo đạc vênh nhau để từ đó làm cơ sở xác định đất của gia đình bạn có đang tranh chấp hay không. Chỉ khi xác định được các số liệu chính xác làm cơ sở để xác định ranh giới thửa đất thì mới có căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

    Trường hợp đất lấn chiếm của gia đình bạn đã xây dựng nhà cửa kiên cố thì về nguyên tắc, gia đình bạn được quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lấn chiếm tháo dỡ phần xây dựng trái  phép. Tuy nhiên, phía gia đình bạn phải chứng minh thời điểm xây dựng trên phần đất lấn chiếm các bên đã có tranh chấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định cấm xây dựng, nhưng bên lấn chiếm vẫn cố tình xây dựng. Nếu vì lí do khách quan thực tế khi thi hành án bên lấn chiếm không thể trả lại phần đất lấn chiếm thì gia đình bạn được quyền đề nghị Tòa án buộc bên lấn chiếm phải thanh toán lại cho gia đình bạn giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường hoặc bồi thường thiệt hại đối với phần đất hoặc không gian mà gia đình bạn không được sử dụng.

  • Xem thêm     

    09/06/2021, 11:08:38 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

    Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

    c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

    đ) Có tổ chức;

    e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

    i) Có tính chất côn đồ;

    k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân...

    Trường hợp tỉ lệ thương tật của anh bạn chưa đến 11%(chỉ bị bị 6%) nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 trên thì cũng đủ yếu tố để cấu thành tội phạm.

    Như vậy việc công an quyết định không khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp này là không đúng với quy định ở trên.

    Khi bạn có căn cứ cho rằng không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn thì bạn có quyền khiếu nại sự việc này đến cơ quan có thẩm quyền.

    Theo đó, trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền khiếu nại được khoản 1 Điều 469, cụ thể hóa: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

    Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về Các quyết đinh, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại:

    “1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này.

    2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”

    Như vậy, căn cứ vào các quy định trên Bộ luật tố tụng hình sự, nếu bạn không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, và không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát thì bạn có thể khiếu nại tiếp lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để giải quyết.

  • Xem thêm     

    09/06/2021, 10:54:05 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đối với trường hợp của bạn, do bạn không có nói rõ đây là miếng đất này thuộc sở hữu riêng của cá nhân mẹ của bạn hay miếng đất thuộc sở hữu chung của hộ gia đình. Chính vì vậy, do chưa rõ nên chúng tôi sẽ chia ra làm hai trường hợp:

    Trường hợp 1: Nếu như đất mà mẹ bạn tặng cho bạn thuộc sở hữu riêng của cá nhân mẹ bạn thì tức là mẹ bạn là chủ sở hữu đối với miếng đất này, đồng thời mẹ của bạn cũng sẽ có toàn quyền quyết định đối với mảnh đất này theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013:

    “Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

    1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

    a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

    b) Đất không có tranh chấp;

    c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

    d) Trong thời hạn sử dụng đất”.

    Như vậy, khi quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của cá nhân thì chỉ cá nhân đó mới có quyền thực hiện việc định đoạt đất đó, chính vì vậy mẹ của bạn sẽ có toàn quyền quyết định việc là tặng cho ai miếng đất này mà không cần có sự đồng ý của người khác như các anh, em của bạn, họ không có quyền quyết định đối với miếng đất này.

    Trường hợp 2: Nếu miếng đất này thuộc sở hữu của hộ gia đình hoặc thuộc khối tài sản chung của bố mẹ bạn chưa phân chia di sản thừa kế. Căn cứ theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

    “ Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

    Khi căn cứ vào quy định này, nếu như quyền sử dụng đất thuộc trường hợp đất thuộc sở hữu chung của hộ gia đình thì khi mẹ bạn tiến hành tặng miếng đất này cho bạn thì bắt buộc phải được sự đồng ý của tất cả đồng sở hữu miếng đất này, bất kể là có con ở nước ngoài hay thế nào thì cũng đều phải được sự đồng ý của họ và cùng ký xác nhận vào giấy tặng cho. Cho nên, khi các bên thực hiện thủ tục tặng cho mà không có sự đồng ý của những đồng sở hữu còn lại thì văn bản đó sẽ không có giá trị pháp lý và có thể bị hủy và gia đình không được công nhận quyền sử dụng đất phù hợp.

    Bên cạnh đó, trong trường hợp quyền sử dụng đất của thửa đất này là của bố mẹ bạn mà khi bố bạn mất gia mà gia đình bạn chưa làm thủ tục phân chia di sản thừa kế thì cũng cần có sự đồng ý của tất cả những đồng thừa kế còn lại để thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế, nên tương tự như trên, khi không có sự đồng ý của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì bạn không được công nhận quyền sử dụng đất hợp lệ.

  • Xem thêm     

    03/06/2021, 10:11:06 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Theo như tình huống bạn kể lại, bạn bị đe dọa, chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mình trên mạng internet. Hiện nay trên các mạng xã hội như Facebook, Zalo… thấy những status có nội dung nói xấu, thóa mạ hay vu cáo nhau không phải là chuyện hiếm, kể cả nêu đích danh hoặc nói cạnh khóe xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của người khác.

    Bạn là nạn nhân bị bêu xấu trên mạng cần phải làm các bước sau:

    - Trước hết bạn cần thu thập bằng chứng thông qua việc yêu cầu Văn phòng thừa phát lại lập vi bằng những status hoặc bình luận có nội dung được cho rằng xúc phạm, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của mình. “Việc lập vi bằng cần phải thực hiện ngay sau khi phát hiện có hành vi xâm phạm, vì nếu để lâu, những thông tin đó có thể bị gỡ bỏ, xóa dấu vết

    - Trường hợp có địa chỉ của người bêu xấu, người bị xúc phạm có thể gửi thư hoặc văn bản yêu cầu gỡ ngay các status hoặc bình luận không đúng sự thật.

    Nếu yêu cầu của bạn không được thực hiện nên làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an. Theo quy định, trong thời hạn 20 ngày hoặc chậm nhất là 2 tháng, cơ quan công an phải có văn bản trả lời. Nếu kết luận của cơ quan công an xác định hành vi của người đưa thông tin lên mạng xã hội là bịa đặt thì tùy mức độ vi phạm, thiệt hại xảy ra để xử lý trách nhiệm hình sự, xử phạt hành chính người đưa thông tin.

    Nếu kết luận của cơ quan công an xác minh thông tin trên mạng xã hội là đúng, nhưng rơi vào trường hợp thuộc bí mật đời tư thì người bị xúc phạm vẫn có thể khởi kiện dân sự đòi bồi thường, buộc xin lỗi vì bị xâm phạm bí mật đời tư

    Tuy nhiên, có một thực tế là không ít trường hợp những kẻ nói xấu không dùng trang cá nhân, hay danh tính thật, mà lập một trang ảo để nói xấu, bôi nhọ người khác. Do đó, cơ quan chức năng giải quyết tin báo, tố giác tội phạm không dựa vào tên trên mạng để xác minh hành vi vi phạm, mà có nhiều biện pháp nghiệp vụ khác. Vì vậy, dù người vi phạm có sử dụng nick ảo hoặc tên người khác để che giấu thì vẫn có thể bị phát hiện, xử lý

  • Xem thêm     

    27/05/2021, 09:31:47 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Theo thông tin bạn cung cấp, đất mà gia đình bạn định chuyển nhượng hiện tại là đất trồng cây lâu năm. Để chuyển nhượng mảnh đất là đất trồng cây lâu năm thì mảnh đất phải thỏa mãn theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013:

    “Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

    1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

    a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

    b) Đất không có tranh chấp;

    c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

    d) Trong thời hạn sử dụng đất.

    2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

    3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

    Việc chuyển nhượng mảnh đất phải được thực hiện bằng hợp đồng được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013

    Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

    3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

    “a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

    b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

    c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

    d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.”

    Sau khi bạn và bên bán kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ công chứng hoặc chứng thực ở văn phòng đăng kí đất đai và làm thủ tục sang tên.

    Để làm thủ thủ tục sang tên để mảnh đất đứng tên người nhận chuyển nhượng cần nộp hồ sơ đến văn phòng đăng kí đất đai, đồng thời nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

  • Xem thêm     

    25/05/2021, 01:44:39 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp Nhân viên lái xe công ty rồi gây tai nạn trong lúc thực hiện công việc công ty thì căn cứ Điều 597 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

    “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”

    Như vậy, nếu nhân viên lái xe gây tai nạn trong lúc thực hiện nhiệm vụ được giao thì công ty sẽ là người bồi thường thiệt hại.

    Còn nếu trong trường hợp nhân viên lái xe nhưng không trong quá trình thực hiện công việc công ty; rồi gây tai nạn thì tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự 2015, có 02 trường hợp công ty sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người của mình gây ra thiệt hại, cụ thể như sau:

    “a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

    b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

    Đối với trường hợp, nhân viên lái xe tự ý lấy xe công ty để thực hiện việc cá nhân hoặc một việc nào đó nhưng không nằm trong thỏa thuận giữa công ty và nhân viên; trong tình huống này, nếu nhân viên gây tai nạn thì công ty không có trách nhiệm phải bồi thường. Nhân viên lái xe trong trường hợp này phải tự chịu trách nhiệm với những thiệt hại do mình gây ra.

  • Xem thêm     

    23/05/2021, 11:19:00 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Tại Điều 174 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng như sau:

    “Điều 174. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng

    Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh”.

    Và theo Điều 605 bộ luật dân sự 2015 có quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà  cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau:

    “Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

    Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.

    Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”.

    Như vậy chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác. Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường.

    Tuy nhiên, quá trình đòi bồi thường là rất nhiêu khê, tốn nhiều thời gian, công sức. Người dân rất mong muốn cơ quan quản lý địa phương cần vào cuộc xử lý ngay để tránh phát sinh hậu quả đáng tiếc.

    Khi hàng xóm bơm, nạo vét ao, bạn nên chủ động trao đổi với nhà hàng xóm để biết được kỹ thuật thi công có đảm bảo không; đồng thời yêu cầu công trình phải được che chắn, có biện pháp chống nghiêng, chống sập đối với nhà liền kề… Lưu ý thêm về ranh mốc, tường chung, an toàn, vệ sinh. Đôi bên thống nhất các phương án bồi thường nếu xảy ra sự cố, hoặc bồi thường bằng tiền, hoặc sửa chữa trả về hiện trạng ban đầu, tất cả phải thể hiện trên giấy tờ. Nếu có thể, nên theo sát quá trình thi công để kịp thời phát hiện, xử lý những bất cập phát sinh.

    Nếu trong quá trình bơm, nạo vét ao của nhà hàng xóm mà phát hiện có vết nứt, thấm, sụt lún nền, phải báo ngay với nhà đang xây để có biện pháp khắc phục phù hợp. Trường hợp mức độ hư hại nặng thì buộc bên thi công phải tạm ngừng để tìm giải pháp an toàn hơn. Nếu hai bên không thỏa thuận được giải pháp thì có thể báo với UBND phường nơi cư trú để xử lý theo thẩm quyền

    Theo các quy định trên, nếu trong quá trình nhà hàng xóm bơm, nạo vét ao gây ảnh hưởng, thiệt hại đến nhà liền kề, cụ thể là gây nứt tường, hỏng nhà hàng mình thì gia đình bạn có thể yêu cầu ngừng việc thi công và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với sự cố do công trình của mình gây ra. Về mức độ bồi thường thiệt hại thì hai bên có thể tự thỏa thuận với nhau, căn cứ theo quy định của pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra. Cụ thể là căn cứ vào mức độ thiệt hại thực tế của nhà hàng xóm và các chi phí khác có liên quan. Hai bên có thể tự mình xác định mức độ thiệt hại và thỏa thuận về vấn đề bồi thường thiệt hại. Nếu không tự xác định được mức độ thiệt hại thì một trong hai bên có thể thuê cơ quan định giá để xác định mức thiệt hại cụ thể để làm căn cứ bồi thường.

  • Xem thêm     

    07/05/2021, 10:33:02 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 117 Luật thi hành án dân sự. Theo đó, cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được áp dụng trong trường hợp sau:

    + Bản án, quyết định của toà án buộc người phải thi hành án phải chuyển giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án.

    + Người phải thi hành án phải chuyển quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất để thi hành án.

    Theo quy định tại Điều 117 Luật thi hành án dân sự thì khi cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất, chấp hành viên tổ chức giao.

    Trong trường hợp của bạn, Chi cục Thi hành án và các ngành liên quan đã đến thực hiện cưỡng chế và lập biên bản cưỡng chế xác định ranh giới quyền sử dụng đất, Tuy nhiên, cơ quan thi hành án cho là 2 bên không thương lượng được nên không thể xác định ranh kéo thẳng mà chỉ chôn trụ đá ở 2 đầu, phần ranh ở giữa do các bên tự bảo quản và tự chịu trách nhiệm. Do đó, bạn có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

  • Xem thêm     

    07/05/2021, 05:00:26 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Đã trả lời rồi!

  • Xem thêm     

    25/04/2021, 09:59:47 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2131)
    Số điểm: 12110
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1531 lần
    Lawyer

    Câu hỏi đã được trả lời.

105 Trang <123456>»