Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang <1234567>»
  • Xem thêm     

    20/04/2021, 10:16:31 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

    Trong trường hợp này, bố mẹ bạn tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ba người con được coi là một giao dịch dân sự.

    Căn cứ quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015  quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

    “1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

    Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

    Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

    Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

    2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

    Như vậy, việc họp gia đình của gia đình bạn đã được bố mẹ bạn lập thành biên bản hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, trong đó có ghi nhận nội dung tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ba người con. Do đó, việc tặng cho này là một giao dịch dân sự và đã được thể hiện dưới văn bản (biên bản họp gia đình).

    Biên bản họp gia đình của gia đình bạn để được xem như là một hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thì ngoài phải đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự còn phải đáp ứng điều kiện về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và sẽ có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực.

  • Xem thêm     

    20/04/2021, 10:10:17 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Người giám hộ của người con bác cả đang bị tâm thần nặng (mất năng lực hành vi dân sự) theo quy định tại điều 53 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

    “Điều 53. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

    1. Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

    2. Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

    3. Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.”

    Theo quy định trên, thì người giám hộ theo pháp luật của con bác cả là bố, mẹ người đó. Nhưng bố, mẹ bạn đã chết nên người anh em trong số em họ nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự 2015, quy định về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ, nếu anh không đáp ứng đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

    Điều 58. Quyền của người giám hộ

    “1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:

    a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

    b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

    c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của

    pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

    2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.”

    Như vậy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 58 thì đại diện cho người được giám hộ do mất năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Do đó, người giám hộ đương nhiên của con bác cả bạn trong trường hợp này có thể thay người con để ký biên bản phân chia di sản thừa kế nếu việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, khởi kiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

  • Xem thêm     

    20/04/2021, 10:02:51 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản, theo đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Trong hợp đồng vay tài sản tồn tại hai chủ thể của hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay, khi đến thời hạn trả lại tài sản mà các bên đã thỏa thuận thì bên vay có trách nhiệm trả tiền cho bên cho vay.

    Trường hợp bạn không trả tiền vay, chủ nợ có quyền khởi kiện ra tòa án. Nếu bạn có điều kiện trả nhưng cố tình trây ỳ hoặc có hành động bỏ trốn, chủ nợ có quyền làm đơn trình báo, yêu cầu cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm hình sự về tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

    Khi bị chủ nợ uy hiếp, tấn công hoặc xiết nợ (cưỡng đoạt tài sản), bạn cần trình báo ngay cơ quan công an nơi gần nhất; đặc biệt hạn chế có lời nói, cử chỉ mang tính kích động.

    Nếu người đòi nợ đến gây mất trật tự trị an, tấn công, làm nhục, hủy hoại tài sản hoặc lấy tài sản mang đi, con nợ có quyền làm đơn trình báo tới cơ quan công an để xem xét trách nhiệm hình sự họ về các tội danh tương ứng: Gây rối trật tự công cộng, Cố ý gây thương tíchLàm nhục người khácHủy hoại tài sản hoặc Cưỡng đoạt tài sản.

  • Xem thêm     

    17/04/2021, 11:09:50 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Gia đình bạn trước thì có sổ đỏ và hiện giờ đã thất lạc đâu không rõ (không nhớ đăng ký năm nào).

    Theo quy định pháp luật, người dân có quyền biết thông tin về đất đai, trừ dữ liệu thuộc phạm vi bí mật Nhà nước. Trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin thửa đất cụ thể thì phải ghi rõ mục đích sử dụng dữ liệu và cam đoan không sử dụng dữ liệu được cung cấp trái với quy định của pháp luật khi viết phiếu yêu cầu.  Do đó, bạn có thể liên hệ Kiểm tra thông tin ở Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh của Văn phòng đăng ký đất đai.

    Căn cứ Điều 99 Luật đất đai năm 2013 có quy định về "Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất”. Đồng nghĩa với việc người sở hữu đất có quyền xin cấp lại sổ đỏ trong trường hợp bị mất Sổ đỏ do sơ xuất, do cháy hay do các trường hợp đáng tiếc khác.

    Nếu trong trường hợp thông tin thửa đất của bạn chưa được cấp Giấy chứng nhận thì gia đình bạn có thể thực hiện thủ tục cấp Giáy chứng nhận lần đầu.

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 10:23:15 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Việc bà nội bạn sang tên quyền sử dụng đất mảnh đất cho bố, bác bạn được xem là một hợp đồng tặng cho. Theo quy định tại Điều 465 “Bộ luật dân sự 2015” thì:

    “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận.” 

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 467 “Bộ luật dân sự 2015” thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản được tính như sau:

    “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

    Như vậy, theo quy định này hợp đồng tặng cho giữa bà nội và bố bạn đã có hiệu lực. Bởi bà nội đã chuyển quyền sử dụng đất cho bố bạn và bố bạn đã làm sổ đỏ mang tên bố bạn. Tuy nhiên, hợp đồng tặng cho là một dạng của hợp đồng dân sự vì thế để hợp đồng này có hiệu lực pháp luật thì nó phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực chung của một hợp đồng dân sự trong đó có điều kiện về năng lực của chủ thể tức các bên tham gia hợp đồng phải có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Nếu trong lúc bà nội bạn xác lập hợp đồng tặng cho đó mà vẫn minh mẫn và có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi thì hợp đồng tặng cho giữa bà nội và bố bạn có hiệu lực. Như thế, trong trường hợp này, bà nội bạn không còn di sản là số đất đó nữa bởi số đất đó giờ thuộc quyền sở hữu của bố bạn. Vợ con bác cả sẽ không có quyền được nhận thừa kế số đất đó vì nó không phải là di sản thừa kế của bà nội. Đương nhiên họ cũng không có quyền tranh chấp với mảnh đất mà bố bạn được cho vì ngôi nhà đó đã mang tên bố bạn.

    Nếu vợ bác cả chứng minh được rằng, trong lúc bà nội xác lập hợp đồng tặng cho, bà bạn do ốm nặng không minh nẫm, sáng suốt tức không điều khiển được hành vi cũng như không có khả năng nhận thức thì hợp đồng tặng cho giữa bà nội và bố bạn sẽ không có hiệu lực pháp luật và sẽ bị vô hiệu do không đáp ứng được điều kiện về chủ thể. Vì thế số đất trên sẽ được coi là di sản thừa kế của bà nội bạn, vợ và con bác cả sẽ hoàn toàn được hưởng di sản đó theo quy định của pháp luật. Cụ thể, số di sản đó sẽ được chia theo pháp luật và chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 10:09:49 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc thể hiện nội dung tại điểm Ghi chú trên Giấy chứng nhận như sau:

    Trường hợp trong quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, hợp đồng hoặc văn bản nhận chuyển quyền sử dụng đất và các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có nội dung hạn chế về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì ghi nội dung hạn chế theo giấy tờ đó.

    Trường hợp thửa đất hoặc một phần thửa đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đã được công bố, cắm mốc thì ghi "Thửa đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình... (ghi tên của công trình có hành lang bảo vệ)"; hoặc ghi "Thửa đất có... m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình..." đối với trường hợp một phần thửa đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình.

    Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì ghi "Số hiệu và diện tích thửa đất chưa được xác định theo bản đồ địa chính.

    Các nội dung ghi chú trong các trường hợp khác được ghi theo quy định tại Khoản 3, Điều 5; Điểm c, Khoản 6, Điều 6; Điểm c, Khoản 1, Điều 8; Điểm c Khoản 1, Điều 9 và Điều 13 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT.

    Như vậy, nội dung ghi chú trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thực hiện theo quy định nêu trên. Nếu phần đất của bạn là người sử dụng đất nằm trong hành an lang bảo vệ an toàn công trình đã được xác định trong bản đồ địa chính thì trên giấy chứng nhận sẽ ghi “Thửa đất thuộc quy hoạch giao thông… (ghi tên của công trình có quy hoạch giao thông)” hoặcghi “Thửa đất có 3m2 đất thuộc quy hoạch giao thông…” .

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 10:04:19 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo nguyên tắc, người có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm có trách nhiệm chứng minh vi phạm. Cá nhân, tổ chức bị xử lý có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm.

    Trường hợp của bạn có thể yêu cầu được đưa ra bằng chứng chứng minh về hành vi vi phạm thì phải cho bạn biết ngay nếu đã có hình ảnh, người làm chứng biết rõ sự việc tại đó. Nếu nhà trường không chứng minh được hành vi vi phạm thì không có quyền xử lý lỗi vi phạm đó. Nếu không chứng minh được hành vi vi phạm của bạn mà cố tình xử lý thì bạn có quyền khiếu nại nhà trường.

  • Xem thêm     

    14/04/2021, 09:34:27 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 có quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    - 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

    - 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

    - 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

    - 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn kể trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nhưng nếu trong thời hạn kể trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    Như vậy, căn cứ quy định được trích dẫn trên đây thì có thể thấy việc truy nã đối với người phạm tội sẽ được thực hiện từ lúc có quyết định truy nã người phạm tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đến lúc người bị truy nã đã bị bắt hoặc ra đầu thú thì việc truy nã người phạm tội sẽ chấm dứt.

    Đồng nghĩa, đối với trường hợp truy nã bị can, bị cáo trong vụ án hình sự cũng như vậy. Trường hợp của bố bạn đã có quyết định truy nã bị can, bị cáo thì chỉ khi bị can, bị cáo ra đầu thú, trình diện hoặc bị bắt giữ thì cơ quan ra quyết định truy nã mới ra quyết định đình nã, dừng việc truy nã lại.

  • Xem thêm     

    06/04/2021, 02:11:52 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo điểm b khoản 1 Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, khi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp bị ố, nhòe, rách, hư hỏng thì người dân có quyền cấp đổi để có Giấy chứng nhận mới.

    Theo đó, trường hợp sổ đỏ bị rách, hư hỏng, ố, nhòe thuộc trường hợp được cấp đổi sổ đỏ. Do vậy, khi sổ đỏ của bạn bị rách, bạn cần liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp đổi sổ đỏ.

    Khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng gồm có:

    - Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK.

    - Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.

    * Trình tự, thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận

    Khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ thì hộ gia đình, cá nhân thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận theo các bước dưới đây:

    Bước 1: Nộp hồ sơ

    Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 60 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, nơi nộp hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận được quy định như sau:

    - Cách 1: Hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất nếu có nhu cầu.

    - Cách 2: Nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; nơi chưa có Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

    Thời gian thực hiện

    Theo khoản 40 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, thời gian thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận như sau:

    - Không quá 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không quá 17 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    - Thời gian này không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại xã, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; không tính thời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật, thời gian trưng cầu giám định.

    * Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận

    Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận do HĐND cấp tỉnh quy định nên mỗi địa phương có mức thu khác nhau (mức thu dưới 100.000 đồng).

    Trên đây là thủ tục cấp đổi Sổ đỏ bị rách, hư hỏng, nhòe, ố; bên cạnh thủ tục này thì người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở nên biết các thủ tục hành chính về Sổ đỏ để có thể tự mình thực hiện.

  • Xem thêm     

    03/04/2021, 11:24:36 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Điều 481 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trả tiền thuê như sau:

    1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.

    2. Trường hợp các bên thoả thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

    Như vậy, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, thì phải sau 3 tháng bên thuê không trả tiền thuê nhà đúng hạn, bạn mới có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và lấy lại nhà.

    Trường bên thuê không chịu rời khỏi nhà thì bạn có thể nhờ tới chính quyền địa phương để kịp thời tiếp nhận và xử lý

  • Xem thêm     

    03/04/2021, 11:16:19 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo khoản 8 điều 10 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, người đứng tên chủ hộ có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp cố tình gây khó khăn, không cho những người có cùng tên sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật".

    Hành vi chủ hộ không cung cấp sổ hộ khẩu để bạn sau thực hiện việc tách khẩu được xác định là vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú quy định tại điểm a, khoản 1 điều 8, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP. Theo đó, “cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú”. Mức phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng.

    Mẹ của bạn không cho mượn sổ hộ khẩu để thực hiện thủ tục hành chính là vi phạm về quy định trách nhiệm của chủ hộ, bạn có thể làm đơn trình báo lên cơ quan chính quyền địa phương: xã, phường, thị trấn can thiệp và yêu cầu hợp tác để thực hiện đúng quy định của pháp luật hiện hành.

    UBND cấp xã có quyền đề nghị chủ hộ giao sổ hộ khẩu để làm thủ tục tách hộ khẩu cho bạn, nếu chủ hộ không chấp hành thì người này sẽ bị xử phạt vi phạt hành chính với hành vi: “Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền” (điểm c, khoản 1 điều 8, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP).

  • Xem thêm     

    03/04/2021, 11:12:18 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những cơ quan tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan Thi hành án là các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc chuyển nhượng tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

  • Xem thêm     

    01/04/2021, 02:47:25 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Tại Điều 11 Thông tư 15/2016/TT-BXD quy định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ phải có một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Theo Điều 3 Nghị định 53/2017/NĐ-CP, giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng là một trong những loại giấy tờ sau:

    1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 2001, Luật Đất đai năm 2003.

    2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định Luật Đất đai năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009.

    3. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định tại Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994, Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở.

    4. Các loại giấy tờ đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chưa được cấp gồm: Các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 được hướng dẫn chi tiết tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP hoặc giấy xác nhận của UBND cấp xã và được cơ quan đăng ký đất đai xác nhận đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    5. Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ sau ngày 01/7/2004 nhưng không có Giấy chứng nhận, gồm: Quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc Quyết định cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và hợp đồng thuê đất kèm theo (nếu có) hoặc giấy tờ về trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Như vậy, bạn vẫn phải chờ trả kết quả khi đổi Giấy chứng nhận hoặc chỉ cần có một trong những loại giấy tờ hợp pháp về đất đai thì được xin giấy phép xây dựng nhà ở mà không bắt buộc giấy tờ đó là Giấy chứng nhận (Sổ đỏ), khi có giấy phép xây dựng thì bạn mới được phép khởi công xây dựng.

  • Xem thêm     

    01/04/2021, 02:07:31 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Dựa theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin giải thích như sau: Bạn phải biết được rằng đối tượng có hành vi hack facebook bạn để lừa đảo đang đăng ký thường trú ở đâu ( đối với cá nhân) hoặc trụ sở ( đối với tổ chức).. để nộp đơn tố giác tội phạm.

    Nếu không xác minh được đối tượng đó, bạn làm đơn trình báo, bạn gửi lên phía cơ quan công an gần nhất của bạn để được hỗ trợ Hoặc bạn Liên hệ với Cục cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao để được hỗ trợ tìm kiếm thông tin.

    Theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

    Khi bạn phát hiện ních facebook bị hách và có dấu hiệu lừa đảo, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi người đó cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người đó và không biết người đó là ai, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở nội dung tin nhắn qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook.

    Khi đó tùy tính chất, mức độ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc xử lý hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  • Xem thêm     

    01/04/2021, 10:17:15 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo đó trong di chúc của người có di sản để lại có ghi nhận rõ chủ thể được hưởng thừa kế theo di chúc. Di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015:

    - Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

    - Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

    - Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

    - Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện ở quy định đầu tiên trên đây.

    - Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

    Theo khoản 2 điều 660 BLDS 2015, những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

    Theo quy định của BLDS, việc phân chia di sản thừa kế ưu tiên sự thỏa thuận của các đồng thừa kế và việc thỏa thuận của ba anh chị em phải được lập thành văn bản. Trường hợp mà bạn nêu ở trên thì người em thứ ba tỏ ý không muốn bán căn nhà, tuy nhiên người này cũng không muốn thanh toán cho những đồng thừa kế còn lại số di sản mà họ đáng được hưởng. Như vậy, vợ  bạn và các anh em của bên vợ bạn nên ngồi lại với nhau để thỏa thuận cho rõ ràng lại phần di sản này. Do tinh thần của BLDS chính là sự thỏa thuận, nên sự thỏa thuận giữa các đương sự đương sự với nhau luôn được pháp luật ưu tiên (trừ trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật).

    Như vậy, với thông tin bạn cung cấp, nếu nếu bố vợ bạn đã lập di chúc mà sau này ông mất đi nhưng gia đình người anh em hiện đang ở đó, cứ ở lỳ không đồng ý bán để chia đều không đồng ý ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, thì những đồng thừa kế còn lại có thể nộp đơn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú để yêu cầu chia di sản thừa kế.

  • Xem thêm     

    30/03/2021, 04:46:37 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Nếu trụ điện nằm trong đất nhà bạn thì bạn có quyền yêu cầu dời trụ điện và không phải chịu chi phí di dời.

    Nếu trụ điện nằm ngoài đất nhà bạn, thì bạn có quyền đề nghị di dời và hai bên sẽ thỏa thuận về chi phí di dời. Trên cơ sở xem xét, đánh giá đề nghị của bạn và các điều kiện di dời thì cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định có được thực hiện hay không và chi phí do ai chịu với mức bao nhiêu.

    Tuy nhiên trong trường hợp hệ thống điện đó gây mất mỹ quan, gây mất an toàn thì gia đình bạn có quyền thương lượng, thỏa thuận với gia đình hàng xóm đó về việc di dời hệ thống điện nhưng phải có địa điểm để di dời và chịu hòa toàn chi phí về việc di dời đó.

    Như vậy, cần xác định trụ điện nằm bên trong hay ngoài đất nhà bạn để có cách giải quyết phù hợp.

  • Xem thêm     

    28/03/2021, 01:08:24 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Để giải quyết theo trường hợp của bạn thì trước hết phải xem xét nguồn gốc sử dụng đất qua các thời kỳ và các bên có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất không để giải quyết.

    Trong trường hợp mà nhà trường không kê khai, không đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính, không thực hiện quyền quản lý, sử dụng của chủ sử dụng đất; còn người đang sử dụng đất đã kê khai, đăng ký và được đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính; đã được cấp GCNQSDĐ theo đúng trình tự, thủ tục về việc kê khai, đăng ký và việc cấp GCNQSDĐ là có căn cứ pháp luật, thực hiện đúng quy định của Luật Đất đai 1987, Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan thì yêu cầu đòi đất của nhà trường là không đúng và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho người đã được cấp GCNQSDĐ là người chủ cũ và bạn.

    Đối với trường hợp cả hai bên (nhà trường và bạn là người đang sử dụng đất) đều được cấp GCNQSDĐ theo Luật đất đai 1987 hoặc Luật đất đai 1993 (cấp trùng nhau) nay các bên tranh chấp quyền sử dụng đất. Đối với trường hợp này, cần xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thấp chứng cứ làm rõ việc cấp GCNQSDĐ có đúng pháp luật không. Từ đó đưa ra hướng giải quyết.

    Đối với trường hợp chưa bên nào được cấp GCNQSDĐ, nhưng quá trình sử dụng, người sử dụng đất có kê khai, được đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính và họ đang quản lý, sử dụng đất liên tục từ khi có Luật đất đai 1987 cho đến nay, trong khi đó chủ đất cũ không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, sau ngày 01/7/2014, một trong các bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải thụ lý giải quyết. Toà án cần xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc người đang sử dụng đất thực tế đã sử dụng đất trong thời gian bao lâu, chủ cũ đã từ bỏ quyền sử dụng đất của mình trong hoàn cảnh nào và từ thời gian nào. Trên cơ sở đó, Tòa án xem có căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự hay không, để tuyên quyền sử dụng đất thuộc về người đang sử dụng đất trên thực tế.

  • Xem thêm     

    28/03/2021, 11:34:53 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 78 Luật công chứng 2014 quy định:

    “Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam”.

    Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài của Việt Nam bao gồm đại sứ quán và lãnh sự quán hoàn toàn có thể thực hiện việc công chứng đối với hợp đồng uỷ quyền. Giấy ủy quyền đó được lập bằng tiếng Việt.

    Đối với trường hợp người ở nước ngoài uỷ quyền cho người ở Việt Nam thì bạn phải liên hệ lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài để thực hiện thủ tục uỷ quyền nếu người Việt Nam có mặt tại nước ngoài hoặc thực hiện công chứng bởi 2 tổ chức công chứng gồm lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài và một tổ chức công chứng bất kỳ tại Việt Nam. Sau đây là mẫu Giấy ủy quyền bạn cần tham khảo:

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    GIẤY ỦY QUYỀN

    (Dành cho cá nhân)

    Căn cứ Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015

    Căn cứ vào các văn bản hiến pháp hiện hành.

     Hôm nay , ngày ...... tháng ...... năm 20....... ,chúng tôi gồm có:

    I. BÊN ỦY QUYỀN:

    Họ tên:............................................................................

    Địa chỉ:..........................................................................        

    Số CMND:  cấp ngày:    nơi cấp:     

    Quốc tịch:  ......................................................................

    II. BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN:

    Họ tên: ..........................................................................

    Địa chỉ: ......................................................................    

    Số CMND:  cấp ngày:    nơi cấp:     

    Quốc tịch:..................................................................

    III. NỘI DUNG ỦY QUYỀN:
    ...........................................................................................................................

    IV. CAM KẾT

    - Hai bên cam kết sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi thông tin ủy quyền ở trên.

    - Mọi tranh chấp phát sinh giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền sẽ do hai bên tự giải quyết.

    Giấy ủy quyền trên được lập thành .......... bản, mỗi bên giữ ......... bản.

    BÊN ỦY QUYỀN

    (Ký, họ tên)

    BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN

    (Ký, họ tên)

    XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN

              ……………………………………………………………………………..

  • Xem thêm     

    28/03/2021, 11:05:05 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Câu hỏi đã đươc trả lời

  • Xem thêm     

    28/03/2021, 10:57:50 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền như sau:

    “1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

    a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;

    b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này”

    Như vậy, nếu đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng trước ngày 01/7/2014 thì khi thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận lần đầu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển nhượng nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (không được yêu cầu người nhận chuyển nhượng nộp hợp đồng có công chứng hoặc chứng thực). Tuy nhiên, để được cấp Giấy chứng nhận thì người đang sử dụng đất phải có đủ điều kiện theo từng trường hợp đất có giấy tờ và đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất.

105 Trang <1234567>»