Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

15 Trang «<2345678>»
  • Xem thêm     

    24/04/2020, 11:27:35 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Với thông tin bạn cung cấp người nhà của bạn cầm đầu đường dây ma tuý nhưng khi bắt người nhà bạn trên người không có ma tuý xét trong nhà cũng không có. Như vậy, người than bạncó thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội Tàng trữ, buôn bán các chất ma túy…. Do hiện tại người này đang bị giam giữ, gia đình bạn không có thông tin chính xác họ bị tạm giam hay tạm giữ, đồng thời cũng không có thông tin về quyết định khởi tố vụ án nên rất khó xác định hướng giải quyết cụ thể trong trường hợp này.

    Tại Điều 116, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về nghĩa vụ thông báo trong trường hợp giữ, bắt người như sau:

    “Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

    “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, người bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.

    “Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

    Trường hợp bạn nêu, người thân đang bị tạm giam mà gia đình hoặc chính quyền địa phương không nhận được thông báo từ cơ quan điều tra thì Gia đình bạn có thể đến cơ quan điều tra đang giải quyết vụ việc của người thân mình, yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng bị giam, giữ của người này, trường hợp cơ quan điều tra từ chối cung cấp thông tin, gia đình bạn có thể làm đơn khiếu nại đến Thủ trường cơ quan điều tra yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong vụ việc trên.

    Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 22 Luật Thi hành tạm giam, tạm giữ năm 2015 quy định về việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam: “Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ”

    Như vậy, dù bị giam, giữ, nhưng người phạm tội vẫn được phép gặp người thân trong khoảng thời gian này. Do đó, bạn và những người thân khác có thể thăm gặp người đang bị tạm giam, tạm giữ nhưng phải trong điều kiện phù hợp và được sự đồng ý của Thủ trưởng cơ sở giam giữ.

    Nếu người thân bạn rơi vào tình trạng pháp lý như bạn nêu thì nên tìm đến sự trợ giúp của luật sư. Các bạn cũng cần hiểu rằng luật sư là người hiểu biết pháp luật, có tư cách đại diện theo quy định và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp – Không phải tìm đến luật sư là để làm gì đó trái luật.

  • Xem thêm     

    02/04/2020, 02:44:07 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo Khoản 1, điểm a khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013 quy định: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

    3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

    a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;…”

    Như vậy, trong trường hợp của gia đình bạn, nội bạn tặng cho bạn đã thực hiện thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sừ dụng đất tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không ai có quyền đòi lại thửa đất đã tặng cho. Khi đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

    Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, bên tặng cho có thể yêu cầu bên nhận tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Nếu không thực hiện thì người tặng cho có quyền đòi lại tài sản đã tặng cho và yêu cầu bồi thường. Như vậy, chỉ trong trường hợp các bên có thỏa thuận trước về điều kiện tặng cho và được ghi trong hợp đồng thì khi người nhận tặng cho không thực hiện theo thỏa thuận, người tặng cho mới được đòi lại tài sản.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì việc các bên có thỏa thuận về việc bạn phải cho người cô của bạn 1 nền nhà trên miếng đất đó (ko giấy tờ) . Tuy nhiên, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản mới có thể coi là điều kiện của hợp đồng tặng cho. Vì vậy khi bạn vi phạm thỏa thuận này thì cô bạn phải có căn cứ chứng minh tồn tại điều kiện của hợp đồng và bạn đã vi phạm điều kiện đó.

    Như vậy, bạn đã được tặng cho nhà đất đã thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết và đúng quy định của pháp luật thì không ai có thể đòi lại được trừ trường hợp khi thực hiện hợp đồng tặng cho có điều kiện.

    Việc cô bạn muốn xây nhà kiên cố chiếm hết diện tích mặt tiền của miếng đất mà không được sự đồng ý của bạn là hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích về đất đai của bạn. Trong trường hợp này, trước tiên bạn cần phải báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật như sẽ bị xử phạt hành chính tùy theo mức độ vi phạm. Ngoài ra còn phải chịu biện pháp khắc phục hậu quả là khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc phá dỡ công trình. Như vậy, trường hợp này, bạn nên gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã giải quyết, nếu trong trường hợp không hòa giải được tại UBND xã thì gia đình bạn có quyền nộp đơn lên UBND huyện hoặc khởi kiện tại Toà án.

  • Xem thêm     

    04/12/2019, 11:27:10 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp dùng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển tiền nhưng không biết mục đích của họ là dùng số tiền đó để đánh bạc thì coi như hành vi cho chuyển khoản tiền này là một giao dịch dân sự bình thường. Vì người chuyển tiền không biết mục đích của người này nên người chuyển tiền cũng không thuộc trường hợp không tố giác tội phạm, che giấu tội phạm, hoặc người giúp sức do đó người chuyển tiền không bị tội gì

    Tuy nhiên, đối với trường hợp người dùng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển tiền đã biết mục đích của người này là dung để đánh bạc nhưng vẫn chuyển tiền mua hộ. Như vậy, rõ ràng ý chí coi như là đã đồng thuận với ý chí của người đánh bạc, tức là dùng số tiền chuyển mua hộ được này để tiếp tục đánh bạc. Do đó trong trường hợp này mặc dù người chuyển tiền hộ không trực tiếp đánh bạc nhưng hành vi cho chuyển tiền này là hành vi giúp sức để người thực hiện hành vi đánh bạc, tạo điều kiện vật chất cho người đánh bạc để tiếp tục thực hiện tội phạm.

    Như vậy, trong trường hợp người khác dùng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển tiền mua game nhưng lại biết được người đó dùng số tiền đó để đánh bạc thì xem như là người giúp sức trong trường hợp này. Tóm lại, dùng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển tiền để đánh bạc là đồng phạm của tội đánh bạc

  • Xem thêm     

    18/01/2020, 11:07:32 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Câu hỏi đã được trả lời

  • Xem thêm     

    18/01/2020, 11:39:18 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Chó là vật nuôi và đồng thời cũng là một tài sản của người nuôi. Hành vi trộm chó là hành vi “trộm cắp tài sản”. Bởi vậy, nếu giá trị của những con chó bị trộm từ 2 triệu đồng trở lên thì kẻ trộm chó sẽ bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Nếu giá trị của những con chó bị trộm cắp chưa tới 2 triệu đồng, chưa từng bị xử phạt hành chính... không thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a, tới điểm d, khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự thì có thể đối tượng trộm chó chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.

    Hành vi của những tên trộm là trái pháp luật tuy nhiên việc hành hung chống trả lại của kẻ trộm hành vi vi phạm pháp luật và nếu hậu quả nghiêm trọng cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tùy thuộc hành vi khách quan và hậu quả xảy ra để xem xét trách nhiệm của người có hành vi đánh đập xâm phạm sức khỏe kẻ trộm.

  • Xem thêm     

    04/03/2020, 03:08:22 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trước tiên bạn phải gửi tới cơ sở tư nhân kia, sau đó nếu họ giải quyết không thỏa đáng thì bạn mới có thể gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định nhé

  • Xem thêm     

    11/09/2019, 10:36:00 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền danh dự, thân thể của công dân là bất khả xâm phạm. Đặc biệt, quyền của trẻ em còn được coi trọng hơn nữa. Chỉ có cơ quan chức năng mới có quyền điều tra, khám xét, xác định hành vi vi phạm.

    Cũng theo Bộ luật Tố tụng hình sự thì Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Như vậy, khi có đủ căn cứ theo các quy định như trên thì chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan công an mới được phép khám xét.

    Đối với trường hợp bạn hỏi, bạn hành xử như vậy là không đúng, bởi đó chỉ mới là nghi ngờ và phát hiện đồ chứ chưa có căn cứ chính xác xác định điều đó. Bạn hoàn toàn không có thẩm quyền khám xét cặp sách của người khác..

    Để giúp bạn tránh khỏi tâm lý hoang mang, sợ hãi, xấu hổ khi bị nghi oan là trộm đồ, bạn có thể đến gặp trực tiếp cô giáo chủ nhiệm của bạn để trao đổi thẳng thắn. Việc bạn tự ý khám xét người và đồ dùng cá nhân của  người khác là trái các quy định của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở; đặc biệt đối với trẻ em, độ tuổi đang phát triển thì những sang chấn tâm lý như thế này dễ gây cho các bạn sự tổn thương tinh thần rất lớn.

  • Xem thêm     

    13/09/2019, 05:51:51 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    A đi xe máy đâm vào anh họ bạn và tại thời điểm xảy ra tai nạn, người gây tai nạn là A đã gây tổn hại sức khỏe (có thể tử vong). Tình tiết như bạn nêu có dấu hiệu của vụ án hình sự, nếu A có lỗi trong quá trình điều khiển phương tiện giao thông dẫn đến tai nạn thì người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một đến 5 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    Tuy A đã kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu và chuyển lên viện tuyến trên nhưng khi đó nhân lúc không có ai trong phòng đã di chuyển anh họ bạn về nhà anh họ tôi, nói với bà tôi rằng anh họ bạn uống rượu để anh ấy ngủ. Anh họ bạnngủ khoảng 3 tiếng thì tỉnh,  đau đầu, rồi nôn, khi đó cả nhà phát hiện và đưa đi viện nhưng đã không kịp và anh họ bạn đã chết. Hành vi này của A là không cứu giúp người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được hiểu là hành vi thấy người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp người bị nạn. Hiện nay, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này được quy định tại Điều 132, Bộ luật Hình sự về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

    Để giải quyết sự việc ở trên, bạn có thể tố cáo và trình báo vụ việc với cơ quan công an để kịp thời xử lý theo quy định.

  • Xem thêm     

    19/09/2019, 06:08:20 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Cám ơn bạn, không vấn đề gì

  • Xem thêm     

    20/09/2019, 03:16:32 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về hành vi cố ý gây thương tích đối với người khác

    Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như sau:

    “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

    c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    …”

    Như vậy, nếu tỷ lệ thương tích của người bị hại trong trường hợp này từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng bên gây thiệt hại thuộc vào các trường hợp quy định tại Khoản 1 ĐIều 134 đã nêu trên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với em trai bạn.

    Thứ hai, về hành vi gây rối trật tự công cộng:

    Nếu như hành vi của con trai bạn đủ yếu tố để cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật hình sự 2015:

    Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

    1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    Khi đó, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội thì cơ quan điều tra có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam... được quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trường hợp em trai bạn bị cơ quan công an tạm giữ là đúng nếu có các căn cứ theo quy định nêu trên.

  • Xem thêm     

    02/10/2019, 11:12:12 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

    Do vậy, khi phát hiện dấu hiệu lừa đảo, bạn có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở (nội dung tin nhắn trên điện thoại, qua zalo, facebook, số điện thoại, địa chỉ zalo...).

    Tùy tính chất, mức độ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc xử lý hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Nếu phạm tội thuộc quy định tại khoản 1 Điều 174 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 2 Điều 174 sẽ bị phạt tù từ 2-7 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 3 Điều 174 sẽ bị phạt tù từ 7-15 năm. Phạm tội thuộc quy định tại khoản 4 Điều 174 sẽ bị phạt tù từ 12-20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

  • Xem thêm     

    08/10/2019, 09:36:38 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Khoản 1 điều 20 Hiến pháp quy định: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

    Như vậy, cho dù có bằng chứng hay không có bằng chứng thì việc công an xã bắt và đánh anh trai bạn là vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật. Gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo tới người đứng đầu công an phường, nếu không được giải quyết thì gia đình bạn có thể gửi đơn tố cáo tới công an quận, huyện để giải quyết( theo quy định tại khoản 1 điều 21 luật tố cáo năm 2011) . Tuy nhiên, việc gửi đơn tố cáo phải có bằng chứng minh, chẳng hạn khi anh bạn bị đánh có người đứng ra làm chứng, hoặc có video bằng chứng bị dân phòng đánh người,…nếu không sẽ rất khó khăn

    Như vậy, chồng bạn sẽ phải tố cáo đến người đứng đầu công an phường.Nếu như người đứng đầucông an phường không giải quyết cho chồng bạn thì chồng bạn hãy gửi đơn tố cáo nên công an quận( huyện) để được giải quyết.Tuy nhiên việc gửi đơn tố cáo bạn phải có bằng chứng,chứng minh chẳng hạn như khi bạn của bạn bị đưa về phường có người đi cùng thì người đó sẽ đứng lên làm chứng. Hay khi lúc bạn của bạn bị công an dẫn lên phường và luôn miệng hăm dọa nếu không đi theo sẽ đánh chết và bắt im miệng không được hỏi hay nói gì, thì có ai đó đứng ở trên đường đứng ra làm chứng cũng được hoặc bạn của bạn có video bằng chứng công an phường đã đánh người.Vì để tố cáo bất kì ai cũng đều phải có chứng cứ,chứng minh còn nếu không có thì sẽ rất khó khăn .Trong trường hợp của bạn bạn thì chỉ cần có chứng cứ cộng với đơn tố cáo là có thể dễ dàng đi tố cáo họ được rồi.Thế nên điều quan trọng nhất là phải có chứng cứ.Và nếu như người đứng đầucông an phường không giải quyết cho chồng bạn thì bạn hãy gửi đơn tố cáo nên công an quận( huyện) để được giải quyết theo khoản 1 Điều 27 luật tố cáo.

  • Xem thêm     

    28/10/2019, 02:41:26 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Vì bạn không cung cấp thông tin không rõ ràng về việc xin việc và đưa tiền 80 triệu có là hành vi đưa hối lộ hay không nên chúng tôi đặt ra hai trường hợp sau:

    - Việc đưa tiền để xin việc là hành vi đưa hối lộ:

    Nếu bạn đưa 120 triệu cho một người có chức vụ quyền hạn hoặc thông qua một hoặc một số người để đưa tới người có chức vụ quyền hạn và người đó lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để thực hiện việc xin việc cho bạn thì hành vi đó là hành vi đưa hối lộ. Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì số tiền 80 triệu được xác định là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ bị tịch thu để xung vào công quỹ Nhà nước, bạn sẽ không đòi lại được số tiền.

    Về trách nhiêm hình sự thì hành vi đưa hối hộ sẽ cấu thành tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    “1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

    b) Lợi ích phi vật chất…..”

    Người nhận hối lộ và người trung gian đưa tiền biết rõ mục đích của việc đưa tiền cũng cấu thành tội nhận hôi lộ theo Điều 354 và tội môi giới hối lộ theo Điều 365 (Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)….

    7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

    Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”

    - Việc đưa tiền để xin việc không phải là hành vi đưa hối lộ:

    Trường hợp bạn đưa tiền cho một người để người đó tìm cho mình một công việc mà không liên quan đến người có chức vụ quyền hạn thì đây là hợp đồng dân sự giữa hai bên về việc thực hiện một công việc. Nếu theo thỏa thuận của hai bên mà bên đó không thực hiện nghĩa vụ với bạn thì bạn có thể yêu cầu trả lại số tiền, nếu không trả thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện nơi người đó đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

    Trường hợp người đó nhận tiền nhưng không thực hiện đúng công việc mà có ý định bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc theo thỏa thuận của hai bên phải trả lại tiền vào một thời điểm nhất định mà cố tình không trả mặc dù có khả năng trả thì có thể cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

    “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản....”

    Với sự giúp đỡ trên chúng tôi hi vọng bạn sẽ tìm ra cách giải quyết tốt nhất, nếu bạn còn vấn đề gì thắc mắc hoặc cần sự trợ giúp của luật sư để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.

  • Xem thêm     

    05/11/2019, 09:25:34 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 về thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì:

    “1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

    2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.”

    Theo quy định trên thì bạn bị xử lý hành chính từ năm 2016 đã quá thời hạn hai năm nên trường hợp của bạn đương nhiên được coi là là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, bạn không phải làm bất kỳ thủ tục gì để được xóa tiền sự. Quyền lợi của bạn được đảm bảo bình thường.

  • Xem thêm     

    16/06/2019, 05:25:06 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Đây là một dạng câu hỏi về bài tập về pháp luật. Luật sư chỉ giúp tư vấn pháp luật cho những ai có nhu cầu chứ không giúp giải bài tập về pháp luật nhé. Mong bạn thông cảm!

  • Xem thêm     

    19/06/2019, 06:55:59 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Để xác định hành vi chặt cây của người bác và anh họ bạn có phạm tội hoặc có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không cần xác định số cây này có phải tài sản hợp pháp của gia đình bạn hay không? Tuy nhiên, theo như thông tin bạn cung cấp miếng đất là của gia đình bạn vì vậy gia đình bạn có quyền sử dụng đất hợp pháp với diện tích đất đó thì số cây cối hoa màu trên được xác định là tài sản hợp pháp của nhà bạn. 

    Đối với hành vi cố ý hủy hoại tài sản của người khác, tùy vào tính chất của hành vi và mức độ thiệt hại có thể bị trung cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó bạn có thể tố cáo hành vi này với cơ quan công an xã hoặc cơ quan điều tra cấp huyện để được xử lý theo quy định.

    Trường hợp gia đình bà Bông đã tự ý trồng cây trên mảnh đất của nhà nhà bạn thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn giải quyết tranh chấp. Với hành vi tự ý trồng cây trên đất của người khác mà chưa có sự đồng ý của người có quyền sử dụng đất là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm để bảo vệ quyền lợi cho gia đình mình.

  • Xem thêm     

    26/06/2019, 06:42:08 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Vụ tai nạn đã khiến bạn bị xẹp đốt sống L1 nhưng người gây tai nạn đã bỏ chạy khỏi hiện trường và hiện không ra trình diện. Do đó, bạn phải thực hiện việc trình báo Công an huyện để điều tra, lập biên bản, vẽ sơ đồ truy tìm thủ phạm.

  • Xem thêm     

    27/06/2019, 05:52:54 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Nếu bạn có căn cứ cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật hình sự.

    Theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự thì: Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

    Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

    Như vậy, bạn có thể tố giác tội phạm. Bạn có thể tố cáo với cơ quan công an, sau khi xác định cơ quan công an sẽ điều tra vụ án bạn nêu

  • Xem thêm     

    26/07/2019, 04:30:46 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bạn đã được thực hiện có công chứng, chứng thực. Như vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên bán và gia đình bạn có giá trị pháp lý và có giá trị ràng buộc giữa hai bên.

    Theo nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.

    Như đã phân tích ở trên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bạn và bên bán có hiệu lực pháp luật. Theo hợp đồng, hai bên thỏa thuận việc bên bán phải thực hiện việc sang tên sổ đỏ cho gia đình bạn.

    Tuy nhiên đến nay nhưng bên bán vẫn không thực hiện nghĩa vụ sang tên sổ đỏ cho gia đình bạn. Nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

    “Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

    1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

    Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.”

    Như vậy, khi bên bán không giao và làm sổ đỏ đúng như thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bán đã vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó bạn có thể làm đơn khởi kiện nộp tới Tòa án nhân dân huyện nơi cư trú để Tòa án yêu cầu bên bán thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận và bồi thường theo quy định của pháp luật.

  • Xem thêm     

    30/07/2019, 10:31:54 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2130)
    Số điểm: 12105
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo quy định của pháp luật, hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhằm ép buộc phải thực hiện các yêu sách của người đó là hành vi trái pháp luật.

    Đối với việc người bạn kia gọi điện thoại đe dọa bạn không mang tính đe dọa giết người mà chỉ là những lời đe dọa thông thường khiến bạn sợ hãi, sợ bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín nhằm ép buộc bạn phải thực hiện các yêu sách của người đó, hành vi này không phạm tội hình sự nhưng bị xử phạt hành chính về hành vi đe dọa người khác được quy định tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Theo đó, người nào có hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” thì có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần làm đơn tố cáo hành vi vi phạm của kẻ đe dọa tới cơ quan công an. Trong trường hợp có đủ cơ sở cơ quan công an ra quyết định xử phạt hành chính đồng thời áp dụng một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật buộc người vi phạm chấm dứt hành vi. Bên cạnh đó, nếu bạn bạn có áp lực về tinh thần do những hành vi trực tiếp từ bên kia thì kèm theo những yêu cầu xử lý với bên cơ quan công an thì bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần.

     

15 Trang «<2345678>»