Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

14 Trang <1234567>»
  • Xem thêm     

    01/11/2020, 09:20:01 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp của bạn, nếu bước đầu cơ quan cảnh sát điều tra (CQ CSĐT) xác minh bạn là người gây thương tích bằng việc đánh X bỏ chạy được tầm 4 bước rồi té ngã mà bị gãy tay thì họ sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Trong quá trình CQ CSĐT lấy lời khai bạn cứ trình bày đúng sự thật. Việc chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của CQ CSĐT. Tuy nhiên, bạn cũng có thể đưa ra bằng chứng mình vô tội. Nếu bạn xô X té ngã dẫn đến thương tích trên 11% thì hành vi của bạn vi phạm điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

    “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

    ...

     

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

    i) Có tính chất côn đồ;

    …”

    Tuy nhiên, xét về hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả thì thấy bạn không trực tiếp gây ra thương tích đối với X nên không phạm tội Cố ý gây thương tích. Bạn có thể bị điều tra về một tội phạm khác (nếu có). Từ đó tòa phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra lại.

    Việc bạn đánh X làm X sợ chạy bị té ngã có thể có hành vi về tội “Vô ý gây thương tích” quy định tại khoản Điều 138 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

     

    “1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm….”

    Như vậy, nếu bạn vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì mới áp dụng hình phạt theo quy định trên của Bộ luật Hình sự.

  • Xem thêm     

    20/09/2020, 11:28:24 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Tại khoản 3 Điều 6 Luật trẻ em năm 2016 quy định:

    “Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm

    ...3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.”

    Trong đó, các hành vi xâm hại tình dục trẻ em được nêu cụ thể tại Điều 13 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP như sau:

    Điều 13. Trẻ em bị xâm hại tình dục

    1. Trẻ em bị hiếp dâm.

    2. Trẻ em bị cưỡng dâm.

    3. Trẻ em bị giao cấu.

    4. Trẻ em bị dâm ô.

    5. Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

    Theo đó, các hành vi xâm hại tình dục trẻ em bao gồm: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em, sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức. Tương ứng với các hành vi quy định tại Điều 142, 144, 145, 146 và 147 BLHS.

    Theo bạn trình bày bác họ bạn say rượu đã có hành vi xàm sỡ cháu gái họ của mình, sịt nước vào người con bé (không gây thương tích, tụt quàn cháu bé và chưa làm gì hết). Như vậy, hành vi của người bác kia có dấu hiệu “dâm ô” với cháu gái họ của mình.

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự, hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người đã thành niên, dùng mọi thủ đoạn có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu đối với nạn nhân.

    Hành vi dâm ô khi đủ yếu tố cấu thành thì sẽ bị xem xét xử lý theo Điều 146 Bộ luật Hình sự.

    Theo đó, người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội 2 lần trở lên; Đối với 2 người trở lên; Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; Tái phạm nguy hiểm.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm - 12 năm: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm - 5 năm.

  • Xem thêm     

    15/08/2020, 09:20:31 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trong cuộc sống, việc vay tiền nhưng không có giấy tờ thường xảy ra với những người có quan hệ thân thiết trong gia đình. Chẳng hạn như những người họ hàng, bạn bè thân nên đa phần, họ “ngại” việc thể hiện trên giấy tờ.

    Thế nhưng, luật pháp cũng có những quy định bảo vệ quyền lợi những người cho vay không có giấy tờ chứng minh. Cụ thể như sau:

    Hợp đồng có thể được xác lập bằng văn bản, bằng lời nói hoặc hành đồng. Nói vậy có nghĩa là việc không có giấy tờ chứng minh nhưng việc xác minh hợp đồng vay trên cơ sở bằng miệng vẫn phát sinh quan hệ vay mượn tài sản. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

    Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

    1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

    Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

    2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

    Bởi vậy, việc vay tiền vẫn có hiệu lực pháp lý nhưng không nhất thiết phải bằng văn bản. Tuy nhiên, việc chứng minh đã từng hình thành một hợp đồng vay tài sản bằng miệng đôi khi vẫn khó xảy ra trên thực tế. Bởi tòa án vẫn ưu tiên việc chứng minh bằng những giấy tờ, bằng chứng xác thực.

    Việc của bên vay tiền lúc này là bằng mọi cách phải chứng minh được đã từng tồn tại quan hệ vay tiền đó bằng ghi âm lại lời nói hay có sự xác nhận từ người đi vay qua email, tin nhắn điện thoại, phương tiện điện tử khác…Tất  cả những điều này có thể làm căn cứ nếu xảy ra tranh chấp trước tòa.

    Theo thông tin của bạn, bạn đã vay tiền của người khác giờ không còn khả năng thanh toán nợ chứ không phải ngay từ đầu đã cố tình sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó bạn sẽ không bi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Nếu bạn vay mượn tài sản của người khác bằng hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả mặc dù có điều kiện trả lại tài sản nhưng cố tình không trả, cố tình lẩn trốn trốn tránh trách nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp này bạn co thể bị truy cứu trách nhiệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

    “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    ...”

    Trường hợp người bạn vay mượn, trong quá trình làm ăn thua lỗ hoặc chi tiêu cuộc sống nhưng hiện không có khả năng chi trả thì không có dấu hiệu hình sự mà chỉ được xác định là quan hệ vay mượn dân sự.

  • Xem thêm     

    24/08/2020, 03:03:04 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn (trong đó có Công an xã) theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội.

    Khoản 2 Điều 120 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

    “2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ;

    b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;

    c) Xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ”.

    Hành vi lăng mạ, xúc phạm người thi hành công vụ có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, nếu hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác đến mức nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Làm nhục người khác.

    Theo Điều 121 Bộ luật Hình sự hiện hành, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

    Phạm tội đối với người thi hành công vụ là tình tiết định khung tăng nặng, có thể bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

    Ngoài trách nhiệm hình sự hoặc hành chính, người thực hiện hành vi lăng mạ còn có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự.

    Như vậy, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

  • Xem thêm     

    24/08/2020, 08:53:58 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Bạn có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, giữa đám đông người,…

    Với thông tin mà bạn cung cấp đến cho chúng tôi rằng bạn có hành vi lăng mạ người khác hay không, điều đó còn phụ thuộc vào khi Công an xã lập biên bản đối với bạn, thì việc bạn đã trả lời từ lăng mạ ra như thế nào, nếu như việc lăng mạ đó xác định được rằng đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm uy tín của công an xã như công an xã đã lập biên bản đối với bạn thì bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, khi bạn phải giải thích với công an xã không có từ ngữ thể hiện sự lăng mạ thì bạn sẽ không bị công an xã lập biên bản "với nội dung là lăng mạ, bôi xấu người khác”.

  • Xem thêm     

    20/09/2020, 11:19:09 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Bạn đi bộ thì bị kẻ gian giật mất dây chuyền. Ngay khi bị cướp giật, bạn cần tới cơ quan công an gần nhất để trình báo. Công an phường có trách nhiệm lập hồ sơ, làm rõ, báo lên Đội Cảnh sát hình sự công an quận/huyện.

    Nếu cướp giật một vụ trót lọt, công an chưa kịp phát hiện, người dân không báo, đối tượng sẽ tiếp tục gây án, lợi dụng kẽ hở pháp luật nên lờn luật. Rất nhiều vụ công an đã bắt được đối tượng cướp giật, họ thừa nhận đó nhưng lục hồ sơ ngày hôm đó không có vì người dân không tới trình báo nên không xử lý nghiêm được. Có thể họ gây một vụ chưa bắt được nhưng đó là tư liệu cơ sở để lực lượng chức năng nắm rõ tình hình địa bàn, sớm truy xét, bắt kịp thời. Do đó, khi bị cướp giật, trách nhiệm của người dân là trình báo và trách nhiệm của công an là tiếp nhận trình báo truy lung kẻ cướp giật đến cùng.

  • Xem thêm     

    21/05/2020, 06:38:08 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:

    “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

    c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

    đ) Có tổ chức;

    e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

    i) Có tính chất côn đồ;

    k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.”

    Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn bị hai anh em bên cạnh đánh và bị chấn thương, căn cứ vào quy định của pháp luật bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi này đến cơ quan công an ở địa phương. Nếu có căn cứ xác thực, cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra nếu đủ các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì nhóm thanh niên này sẽ bị khởi tố ra trước pháp luật

    Về vấn đề giám định, bạn có thể tự yêu cầu cơ sở y tế thực hiện giám định tỷ lệ thương tật cho bạn. Tỷ lệ thương tật của bạn do nhóm người đó gây ra là cơ sở để xác định họ có hành vi phạm tội và có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

    Do chồng bạn bị hai người đánh hậu quả là bị chấn thương ở sườn, bạn sẽ được bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại Điều 590 BLDS có quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

    “Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

    1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

    a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

    b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

    c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    d) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

    Thứ nhất, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

    Thứ hai, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

    Thứ ba, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

    Thứ tư, trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí này bao gồm chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại (được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động).

    Ngoài ra, một khoản tiền gọi là “bù đắp tổn thất về tinh thần”:

    - Trường hợp các bên thỏa thuận được về số tiền này: Công nhận sự thỏa thuận giữa các bên.

    - Trường họp các bên không thỏa thuận được về số tiền này: Tòa án sẽ quyết định và không quá 100 lần mức lương cơ sở (tức không quá: 100 x 1.490.000 = 149.000.000 đồng).

    Do vậy, trong trường hợp này bạn sẽ được bồi thường thiệt hại, mức bồi thường sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Nhà nước sẽ quy định.

    Như vậy, hai người gây tổn hại cho sức khoẻ của bạn, ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự (nếu hành vi đó thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm) thì còn phải bồi thường thiệt hại dân sự cho bạn.

  • Xem thêm     

    04/07/2020, 10:40:57 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn nhận đặt cọc thông qua hợp đồng đặt cọc đã nhận của người thuê nhà để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng thuê nhà. Như vậy nếu tại thời điểm phải giao kết hợp đồng thuê nhà theo cam kết của hai bên trong hợp đồng đặt cọc mà bên nhận đặt cọc không thực hiện thì bên nhận đặt cọc vi phạm hợp đồng và phải trả lại tiền đặt cọc và bị phạt cọc.

    Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về đặt cọc. Cụ thể:

    “Điều 328. Đặt cọc

    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

    2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

    Theo đó, vì bạn là bên nhận cọc đơn phương chấm dứt hủy hợp đồng thuê nhà nên sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận khác về trách nhiệm giữa các bên với nhau khi chấm dứt thì sẽ áp dụng quy định pháp luật để giải quyết, tức bạn nhận 18 triệu thì có trách nhiệm hoàn trả số tiền này cho người thuê nhà.

    Theo qui định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật  tố tụng dân sự 2015 thì tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, do đó nếu hai bên không tự giải quyết được thì bên thuê nhà khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình bằng cách buộc bạn phải trả lại cho họ số tiền đã đặt cọc.

    Về sự việc này của bạn chưa có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự nên Cơ quan có thẩm quyền không khởi tố bạn vì đó chỉ là quan hệ dân sự.

  • Xem thêm     

    08/07/2020, 10:17:50 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn chưa có khả năng để chi trả cho người đặt cọc do công việc làm ăn của mình đang gặp khó khăn, bạn có thể thương lượng với người đặt cọc và không thực hiện việc bỏ trốn thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn trường hợp có khả năng chi trả, nhưng dùng hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản, cố tình không trả thì bạn hoàn toàn có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

  • Xem thêm     

    13/07/2020, 10:01:38 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Căn cứ tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản:

    Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

    1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

    3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

    a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

    b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Theo thông tin của bạn, mẹ bạn đã vay tiền của người bằng hình thức online nên không còn khả năng thanh toán nợ chứ không phải ngay từ đầu đã cố tình sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó mẹ bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu mẹ bạn vay mượn tài sản của người khác bằng hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả mặc dù có điều kiện trả lại tài sản nhưng cố tình không trả, cố tình lẩn trốn trốn tránh trách nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp này mẹ bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

    Tuy nhiên, mmẹ bạn là người trực tiếp vay thì phải có nghĩa vụ trả nợ cho những người cho vay. Theo đó, khi mẹ bạn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì các chủ nợ có thể khởi kiện ra Tòa thì Tòa án sẽ ra quyết định và yêu cầu mẹ phải trả nợ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, mẹ bạn phải thực hiện nghĩa vụ theo quyết định của bản án, hết thời hạn này mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án ra quyết định kê biên các tài sản đứng tên mẹ bạn, các tài sản mà mẹ bạn có phần sở hữu và tiến hành xử lý tài sản đó trả nợ cho những người cho vay. Như vậy, căn cứ quy định nêu trên và đối chiếu với trường hợp của bạn, nếu bên cho vay có thiện chí thì gia đình bạn có thể thương lượng với họ để tạo điều kiện về mặt thời gian để bên vay trả nợ hoặc hai bên có thể thỏa thuận lại với nhau về thời hạn trả tiền.

  • Xem thêm     

    13/07/2020, 10:19:53 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Xét trường hợp của bạn khi anh làm cùng có nhờ bạn ký tên bên A hộ vào hợp đồng nguyên tắc là trường hợp giả mạo chữ ký để ký vào hợp đồng nguyên tắc. Đây là hành vi lừa dối Công ty, khiến cho Công ty và khách hàng hiểu sai lệch về chủ thể dẫn đến việc giao kết hợp đồng không đúng chủ thể (người giao kết hợp đồng không phải là người thực hiện hợp đồng . Theo Điều 132 Bộ luật Dân sự thì Hợp đồng vay tiền, hợp đồng thế chấp vô hiệu do bị lừa dối.

    Nếu trường hợp anh làm cùng công ty kia thực hiện hành vi gây hậu quả thì bạn và anh đó sẽ bị Công ty hoặc bên đứng tên trên hợp đồng mà bạn ký hộ có thể tố cáo anh ấy(chủ mưu) và bạn (giúp sức) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Tái phạm nguy hiểm;

    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Đối chiếu với trường hợp của bạn: Hành vi của người làm cùng công ty và bạn đã thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng trở lên và chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối thể hiện ở việc nhờ bạn ký giả mạo để giao kết hợp đồng nhằm chiếm đoạt số tiền từ 2.000.000đ.

  • Xem thêm     

    01/08/2020, 11:00:44 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

    Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

    1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

    d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

    đ) Tái phạm nguy hiểm.

    Như vậy, hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có sẽ bị xử phạt với từng mức phạt tương ứng với giá trị tài sản tiêu thụ theo quy định trên.

    Tuy nhiên, tại Khoản 1 Điều 323 BLHS 2015 quy định "biết rõ là do người khác phạm tội mà có". Như vậy,chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này trong trường hợp biết rõ tài sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có. Trường hợp không biết được đó là tài sản do phạm tội có được thì việc tiêu thụ chỉ là 1 giao dịch dân sự thông thường, sau khi biết tài sản đó là tài sản phạm tội có được thì giao dịch dân sự này sẽ bị vô hiệu và các bên có nghĩa vụ trả lại cho nhau những gì đã nhận (Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015)

    Do đó, khi có các căn cứ chứng minh mình vô tội bạn có thể cung cấp cho cơ quan điều tra. Nếu không, việc điều tra, xác minh sẽ thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội.

  • Xem thêm     

    13/08/2020, 06:02:01 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trong vấn đề bạn đưa ra vẫn chưa chia sẻ em thực sự đang muốn điều gì, muốn tìm cách quay lại với người yêu, hay muốn tìm cách làm sao đó để bạn có thể quên đi mối tình cảm làm bạn đau đớn này?

    Thay vì ngồi gặm nhấm nỗi đau, bạn có thể dồn sự chú ý của mình sang công việc hoặc học tập. hãy nghĩ về tương lai, về sự nghiệp phía trước nhiều hơn để bản thân mình luôn hướng về phía trước.

    Đối với trường hợp của bạn nêu, bạn trai bạn gái kia là người đã đủ tuổi thành niên, giao cấu với bạn gái, là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (thời điểm năm 2017), tuy mang tính chất tự nguyện nhưng hành vi của bạn trai bạn vẫn có thể bị truy tố theo quy định tại điểm d, khoản 2, điều 145, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo quy định với bất kỳ lý do gì, hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác giữa người từ đủ 18 tuổi trở lên với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi dù hoàn toàn tự nguyện cũng đều bị coi là hành vi phạm tội và có thể bị xử phạt tù thấp nhất từ 1 năm đến 5 năm. Trong đó, người đủ 18 tuổi bị coi là người phạm tội (bất kể là nam hay nữ) và người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được coi là bị hại.

    Như vậy theo các quy định trên thì bạn có thể gửi đơn tố giác hoặc trực tiếp đến cơ quan điều tra; viện kiểm sát; hoặc cơ quan khác nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi phát hiện tội phạm hoặc nơi người có hành vi vi phạm cư trú để tố giác về hành vi này.

  • Xem thêm     

    15/08/2020, 09:06:38 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Hiện tại, theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 không có quy định xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do em bạn mua về cho một nhóm người sử dụng nên cần lưu ý các hành vi phạm tội có thể phạm phải như sau:

    Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

    1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Phạm tội 02 lần trở lên;

    b) Đối với 02 người trở lên;

    c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

    d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

    đ) Đối với người đang cai nghiện;

    e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

    h) Tái phạm nguy hiểm.

    Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

    1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Trường hợp em bạn mua ma túy với số lượng đủ để cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 250 – Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

    Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

    1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

    c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

    d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

    đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

    e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

    g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

    h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

    i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

  • Xem thêm     

    18/01/2020, 11:07:32 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Câu hỏi đã được trả lời

  • Xem thêm     

    18/01/2020, 11:39:18 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Chó là vật nuôi và đồng thời cũng là một tài sản của người nuôi. Hành vi trộm chó là hành vi “trộm cắp tài sản”. Bởi vậy, nếu giá trị của những con chó bị trộm từ 2 triệu đồng trở lên thì kẻ trộm chó sẽ bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Nếu giá trị của những con chó bị trộm cắp chưa tới 2 triệu đồng, chưa từng bị xử phạt hành chính... không thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a, tới điểm d, khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự thì có thể đối tượng trộm chó chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.

    Hành vi của những tên trộm là trái pháp luật tuy nhiên việc hành hung chống trả lại của kẻ trộm hành vi vi phạm pháp luật và nếu hậu quả nghiêm trọng cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tùy thuộc hành vi khách quan và hậu quả xảy ra để xem xét trách nhiệm của người có hành vi đánh đập xâm phạm sức khỏe kẻ trộm.

  • Xem thêm     

    04/03/2020, 03:08:22 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trước tiên bạn phải gửi tới cơ sở tư nhân kia, sau đó nếu họ giải quyết không thỏa đáng thì bạn mới có thể gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định nhé

  • Xem thêm     

    02/04/2020, 02:44:07 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo Khoản 1, điểm a khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013 quy định: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

    3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

    a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;…”

    Như vậy, trong trường hợp của gia đình bạn, nội bạn tặng cho bạn đã thực hiện thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sừ dụng đất tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không ai có quyền đòi lại thửa đất đã tặng cho. Khi đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

    Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, bên tặng cho có thể yêu cầu bên nhận tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Nếu không thực hiện thì người tặng cho có quyền đòi lại tài sản đã tặng cho và yêu cầu bồi thường. Như vậy, chỉ trong trường hợp các bên có thỏa thuận trước về điều kiện tặng cho và được ghi trong hợp đồng thì khi người nhận tặng cho không thực hiện theo thỏa thuận, người tặng cho mới được đòi lại tài sản.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì việc các bên có thỏa thuận về việc bạn phải cho người cô của bạn 1 nền nhà trên miếng đất đó (ko giấy tờ) . Tuy nhiên, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản mới có thể coi là điều kiện của hợp đồng tặng cho. Vì vậy khi bạn vi phạm thỏa thuận này thì cô bạn phải có căn cứ chứng minh tồn tại điều kiện của hợp đồng và bạn đã vi phạm điều kiện đó.

    Như vậy, bạn đã được tặng cho nhà đất đã thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết và đúng quy định của pháp luật thì không ai có thể đòi lại được trừ trường hợp khi thực hiện hợp đồng tặng cho có điều kiện.

    Việc cô bạn muốn xây nhà kiên cố chiếm hết diện tích mặt tiền của miếng đất mà không được sự đồng ý của bạn là hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích về đất đai của bạn. Trong trường hợp này, trước tiên bạn cần phải báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật như sẽ bị xử phạt hành chính tùy theo mức độ vi phạm. Ngoài ra còn phải chịu biện pháp khắc phục hậu quả là khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc phá dỡ công trình. Như vậy, trường hợp này, bạn nên gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã giải quyết, nếu trong trường hợp không hòa giải được tại UBND xã thì gia đình bạn có quyền nộp đơn lên UBND huyện hoặc khởi kiện tại Toà án.

  • Xem thêm     

    24/04/2020, 11:27:35 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Với thông tin bạn cung cấp người nhà của bạn cầm đầu đường dây ma tuý nhưng khi bắt người nhà bạn trên người không có ma tuý xét trong nhà cũng không có. Như vậy, người than bạncó thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội Tàng trữ, buôn bán các chất ma túy…. Do hiện tại người này đang bị giam giữ, gia đình bạn không có thông tin chính xác họ bị tạm giam hay tạm giữ, đồng thời cũng không có thông tin về quyết định khởi tố vụ án nên rất khó xác định hướng giải quyết cụ thể trong trường hợp này.

    Tại Điều 116, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về nghĩa vụ thông báo trong trường hợp giữ, bắt người như sau:

    “Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

    “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, người bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.

    “Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

    Trường hợp bạn nêu, người thân đang bị tạm giam mà gia đình hoặc chính quyền địa phương không nhận được thông báo từ cơ quan điều tra thì Gia đình bạn có thể đến cơ quan điều tra đang giải quyết vụ việc của người thân mình, yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng bị giam, giữ của người này, trường hợp cơ quan điều tra từ chối cung cấp thông tin, gia đình bạn có thể làm đơn khiếu nại đến Thủ trường cơ quan điều tra yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong vụ việc trên.

    Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 22 Luật Thi hành tạm giam, tạm giữ năm 2015 quy định về việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam: “Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ”

    Như vậy, dù bị giam, giữ, nhưng người phạm tội vẫn được phép gặp người thân trong khoảng thời gian này. Do đó, bạn và những người thân khác có thể thăm gặp người đang bị tạm giam, tạm giữ nhưng phải trong điều kiện phù hợp và được sự đồng ý của Thủ trưởng cơ sở giam giữ.

    Nếu người thân bạn rơi vào tình trạng pháp lý như bạn nêu thì nên tìm đến sự trợ giúp của luật sư. Các bạn cũng cần hiểu rằng luật sư là người hiểu biết pháp luật, có tư cách đại diện theo quy định và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp – Không phải tìm đến luật sư là để làm gì đó trái luật.

  • Xem thêm     

    28/04/2020, 08:28:48 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2125)
    Số điểm: 12080
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1510 lần
    Lawyer

    Trong trường hợp của bạn, nếu cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của gia đình bạn phải giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày hoặc hai tháng với vụ việc phức tạp và phải gửi thông báo về kết quả giải quyết là khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự tới gia đình bạn.Việc Cơ quan công an không gửi thông báo về kết quả giải quyết đơn được coi là có hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự. Gia đình bạn có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình theo quy định.

    Tùy vào đối tượng khiếu nại, bộ luật quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Cụ thể trong trường hợp bạn hỏi là cơ quan công an thì: đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến viện kiểm sát cùng cấp.

    Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra đã được viện kiểm sát phê chuẩn do viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

14 Trang <1234567>»