Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang «<78910111213>»
  • Xem thêm     

    24/11/2020, 10:01:28 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì bạn nhé

  • Xem thêm     

    24/11/2020, 10:00:54 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, đã có hiệu lực từ 1/8/2016. Đây là văn bản mới nhất, thay thế cho các Nghị định số 171/2013/NĐ-CP107/2014/NĐ-CP của Chính Phủ.

    Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô sử dụng giấy phép lái xe (GPLX) giả sẽ bị phạt tiền lên tới 1,2 triệu đồng.

    Cụ thể, tại Điểm a, Khoản 5, Điều 21 Nghị định 46 quy định Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về Điều kiện của người Điều khiển xe cơ giới Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm: Không có giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

    Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô sử dụng GPLX giả sẽ bị phạt tiền lên tới 6 triệu đồng.

    Cụ thể, tại Điểm b, Khoản 7, Điều 21 Nghị định 46 quy định Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về Điều kiện của người Điều khiển xe cơ giới, Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người Điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một trong các hành vi: Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

    Ngoài việc bị phạt tiền, người Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 21; Điểm b Khoản 7 Điều 21 còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

    Hành vi “Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa” không cấu thành tội phạm theo quy định tại bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017) nên sẽ không bị xử lý hình sự mà chỉ bị xử phạt hành chính.

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:35:14 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Có thể tóm tắt lại là Đất trong quy hoạch vẫn có thể chuyển mục đích sử dụng đất nếu thuộc trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nếu thửa đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm thì bạn vẫn có thể xin phép xây dựng nhà ở trên diện tích đó.

    Nếu bạn xin chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong quy hoạch phải có văn bản cam kết về những nội dung chính sau:

    - Chấp hành các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, đê, sông, kênh, mương, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, công trình an ninh, quốc phòng, quy hoạch thoát lũ theo quy định.

    - Bàn giao cho UBND xã, phường, thị trấn diện tích nằm trong phạm vi chỉ giới mở đường quy hoạch và lối đi sử dụng chung của khu vực khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định.

    - Nộp đủ nghĩa vụ tài chính về đất và các nghĩa vụ tài chính khác đúng thời hạn theo quy định khi được phép chuyển mục đích sử dụng đất.

  • Xem thêm     

    23/11/2020, 08:52:25 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ – CP quy định, trường hợp người sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ theo quy định của Luật đất đai để chứng minh quyền sử dụng đất, nhưng đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 1/1/1993, nay được UBND xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Trường hợp người sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất.

    Trường hợp của gia đình bạn đã sử dụng đất ổn định, lâu dài trên đất từ năm 2000 đến nay. Như vậy, trường hợp này nếu được UBND cấp xã xác nhận là không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, khi gia đình bạn được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và đã ra giấy chứng nhận QSDĐ thì sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp tiền sử dụng đất) trong thời hạn pháp luật quy định. 

  • Xem thêm     

    23/11/2020, 09:15:51 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật đất đai năm 2013 quy định về chuyển mục đích sử dụng đất :

    “1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

    a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

    b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

    c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

    d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

    đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

    e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

    g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.”

    Như vậy, theo quy định nêu trên, trường hợp của bạn chuyển từ đất trồng rau sang đất chăn nuôi bò thì không thuộc một trong những trường hợp phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, căn cứ Điều 11 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT thì:

    “Điều 11. Đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất

    1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động, bao gồm:

    a) Chuyển đất trồng cây hàng năm sang xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép.

    Khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động.

  • Xem thêm     

    23/11/2020, 02:22:25 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Trường hợp của  bạn thực hiện việc mua đất dự án của chủ đầu tư, mà lô đất này đã được mua bởi một người khác, thì bạn không thể mua lại đất từ người này khi họ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật Đất đai 2013 có quy định về thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất tại Điều 168 như sau:

    Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

    1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

    2. Thời điểm người thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê; chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời chuyển nhượng toàn bộ dự án đối với dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê sau khi có Giấy chứng nhận và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 194 của Luật này.

    Theo đó, về phía người mua đất đầu tiên mà muốn bán lại lô đất này cho bạn, thì phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lô đất đó mới có thể thực hiện được. Do vậy, người “chủ đất” không có đủ quyền để chuyển nhượng đất cho bạn vì chưa được công nhận tư cách chủ sử dụng đất.

    Bạn có thể thỏa thuận yêu cầu người mua đất đầu tiên thanh lý hợp đồng với bên chủ đầu tư và tự mình giao dịch trực tiếp với chủ đầu tư để mua lô đất này. Nếu không bạn cũng có thể thỏa thuận với bên mua đầu tiên để họ thực hiện xong hết các thủ tục về mua đất, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bán lại cho bạn theo đúng quy định của pháp luật.

  • Xem thêm     

    20/11/2020, 10:14:28 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Tại Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 quy định về đặt cọc như sau:

    “Điều 328. Đặt cọc

    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

    2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.

    Theo quy định nêu trên thì mục đích của việc đặt cọc là để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Đối chiếu thông tin bạn cung cấp thì bạn có đặt cọc để hai bên thuê nhà, tuy nhiên sau đó vì một số lí do mà bạn không tiếp tục thuê nữavì thời hạn hợp đồng thuê nhà đã hết, bạn có yêu cầu đòi lại tiền cọc nhưng chủ nhà không trả.

    Căn cứ quy định trên thì hai bên đã có thỏa thuận về việc đặt cọc để thuê nhà, trong trường hợp này hợp đồng thuê nhà đã hết hạn nên bạn không tiếp tục thuê nhà là không vi phạm về thỏa thuận đặt cọc, Do đó, nếu hai bên đã thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng thì phía bên nhận đặt cọc (bên cho thuê nhà) sẽ phải trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc là bạn.

    Để đòi lại tài sản là tiền đặt cọc, trước tiên bạn cần thương lượng với chủ nhà về nghĩa vụ bên cho thuê nhà phải trả lại tiền đặt cọc. Trong trường hợp bên cho thuê không đồng ý, bạn có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản (tức là nơi có nhà cho thuê) để được giải quyết.

  • Xem thêm     

    21/11/2020, 11:30:04 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn nêu là trường hợp mua bán nhà đất là Tài sản hình thành trong tương lai. Theo đó, bên bán sẽ bàn giao tài sản và quyền sử dụng đất cho bên mua khi xây dựng hoàn thành và bên mua phải thanh toán tiền mua tài sản hình thành trong tương lai cho bên bán theo nội dung do hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

    Căn cứ Điều 59 Luật kinh doanh bất động sản 2014 quy định chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai như sau:

    “- Bên mua, bên thuê mua có quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai khi hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua chưa được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được lập thành văn bản, có xác nhận của chủ đầu tư vào văn bản chuyển nhượng.

    – Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng được tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên mua, bên thuê mua nhà ở với chủ đầu tư. Chủ đầu tư có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên trong việc chuyển nhượng hợp đồng và không được thu bất kỳ khoản chi phí nào liên quan đến việc chuyển nhượng hợp đồng.

    – Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở cuối cùng  được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

    – Việc chuyển nhượng hợp đồng quy định tại Điều này không áp dụng đối với hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở xã hội”.

    Theo đó, bạn và người chủ cũ phải thực hiện trình tự, thủ tục chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Nghị định 76/2015/NĐ-CP. Văn bản chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được công chứng, chứng thực theo quy định, sau đó được chủ đầu tư xác nhận việc chuyển nhượng đó để thay thế chủ thể trên hợp đồng là bạn và Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng cuối cùng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 01:55:14 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Bạn có mua mảnh đất diện tích 80m2(4x20m), thổ cư 50m2 còn lại là đất nông nghiệp, ngày 8/11/2020 bạn tiến hành đặt cọc đến ngày 10/11/2020 cả hai bên đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng và đã chồng tiền đầy đủ. Trong giấy cọc có ghi nếu mảnh đất có quy hoạch thì bên bán phải trả tiền cọc và hủy giao dịch nhưng đến nay em mới biết là có quy hoạch lộ giới và ăn vào phần đất là 5m( 5x4m=20m2). Tại Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

    “Điều 328. Đặt cọc

    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

    2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.

    Theo quy định trên, đặt cọc được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc một tài sản có giá trị khác trong một thời hạn nhất định để đảm bảo cho việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự và các nghĩa vụ khác đã cam kết. Mục đích chung của đặt cọc là đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này giao dịch về chuyển nhượng đã hoàn thành và trong giấy cọc có ghi nếu mảnh đất có quy hoạch thì bên bán phải trả tiền cọc và hủy giao dịch nhưng đến nay bạn mới biết là có quy hoạch lộ giới và ăn vào phần đất là 5m( 5x4m=20m2). Như vậy, bên bán đã vi phạm vào cam kết của mình nhưng hai bên đã hoàn thành hết các nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, lúc này hợp đồng chuyển nhượng sẽ được coi là hoàn thành và bạn sẽ rất khó để đòi lại khoản tiền đặt cọc này.

    Về việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, khoản 2, khoản 3 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

    “2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.”

    Như vậy, đất trong quy hoạch vẫn có thể chuyển mục đích sử dụng đất nếu thuộc trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất, theo Điều 52 và điểm d, điểm e khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ để cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp được quy định như sau: “Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất của người yêu cầu thể hiện trong đơn chuyển mục đích sử dụng đất.”

    Do đó, trong trường hợp của bạn, diện tích đất thuộc diện quy hoạch mà chưa có dự án đầu tư. Tuy nhiên, bạn cần phải xác định rõ việc đã có kế hoạch sử dụng đất hay chưa. Nếu kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch sử dụng đất phù hợp với mục đích gia đình cần chuyển thì bạn có thể thực hiện được việc chuyển mục đích sử dụng.

    Sau khi xác định được tất cả thông tin trên, nếu thửa đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm thì bạn có thể xây dựng nhà ở trên diện tích đó. Ngoài ra, nếu trường hợp có một phần diện tích không thuộc quy hoạch thì bạn cũng có thể tiến hành xây dựng nhà ở trên phần đất không thuộc quy hoạch đó.

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:08:28 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Cái này bạn mô tả thật khó để hình dung rằng diễn biến vụ TNGT chính xác như thế nào, bạn phải chờ kết luận của cơ quan Cảnh sát giao thông hoặc Cơ quan điều tra để biết khi đó mới có thể tư vấn chính xác được. Hoặc bạn có thể tự tìm hiểu thêm về việc bạn lái xe qua như thế nào, người bên kia thế nào, nếu khu vực đường đó xuất phát từ người đi xe theo hướng ngược chiều với xe bạn đã đi không đúng phần đường, đâm vào phía bạn nên bạn đã tránh sang trái đường. Do vậy, khi va chạm xảy ra thì cả hai xe đều ở giữa đường, tại vị trí nào đều phải chờ cảnh sát giao thông giải quyết và kết luận 

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:18:38 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Theo quy định pháp luật thì mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, theo Bộ luật dân sự 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

    Như đã nói ở trên thì danh dự, nhân phẩm của cá nhân đều được pháp luật bảo vệ. Như vậy hành vi của cá nhân nào đó xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm uy tín của người khác thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.

    Đối với trường hợp như bạn có nói ở trên thì bố bạn nói xấu xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bạn, do đó về hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì bị xử phạt theo lỗi vi phạm quy định về trật tự công cộng khi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, cụ thể đối với hành vi này bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

    Ngoài ra nếu bạn chứng minh được gia đình người bố có hành động đã xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm làm bạn và gia đình của bạn cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, ảnh hưởng đến quan hệ tình cảm, công việc của người bố mẹ thì gia đình chú ruột của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Như vậy nếu bố bạn thường xuyên chửi bới, lăng mạ, xúc phạm bạn. Những hành động của bố đã làm gia đình bạn bị mất uy tín, danh dự bị tổn thương. Vậy bạn có quyền làm đơn yêu cầu gửi cơ quan công an địa phương nơi đang sinh sống để yêu cầu được giải quyết. Theo đó, hành vi đó đã được lập đi lập lại nhiều lần nên theo khoản 2 Điều 121 BLHS thì khung hình phạt ở đây là phạt tù từ tháng một năm đến ba năm.

    Khi nhận được đơn, nếu có đủ căn cứ để cho rằng có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ thụ lý để giải quyết vụ án. Nếu không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ xưt phạt hành chính theo nghị định 167/2013/NĐ-CP.

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:22:12 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Đất trong quy hoạch vẫn có thể chuyển mục đích sử dụng đất nếu thuộc trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nếu thửa đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm thì bạn vẫn có thể xin phép xây dựng nhà ở trên diện tích đó.

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:23:25 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Câu hỏi đã được tôi trả lời cụ thể rồi. Có thể tóm tắt lại là Đất trong quy hoạch vẫn có thể chuyển mục đích sử dụng đất nếu thuộc trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nếu thửa đất thuộc quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm thì bạn vẫn có thể xin phép xây dựng nhà ở trên diện tích đó.

  • Xem thêm     

    22/11/2020, 09:33:37 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Nếu bạn xin chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong quy hoạch phải có văn bản cam kết về những nội dung chính sau:

    - Chấp hành các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, đê, sông, kênh, mương, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, công trình an ninh, quốc phòng, quy hoạch thoát lũ theo quy định.

    - Bàn giao cho UBND xã, phường, thị trấn diện tích nằm trong phạm vi chỉ giới mở đường quy hoạch và lối đi sử dụng chung của khu vực khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định.

    - Nộp đủ nghĩa vụ tài chính về đất và các nghĩa vụ tài chính khác đúng thời hạn theo quy định khi được phép chuyển mục đích sử dụng đất.

  • Xem thêm     

    16/11/2020, 04:56:05 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Theo Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội giao cấu và thực hiện hành vi tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

    Đối với trường hợp của bạn, nếu người bạn của bạn là người đã đủ tuổi thành niên, giao cấu với bạn gái là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tuy mang tính chất tự nguyện nhưng hành vi của người bạn đó vẫn có thể bị truy tố theo quy định tại khoản 1, điều 145, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    “Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

    1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

    Tuy nhiên, Bộ luật hình sự  có quy định về Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tức là theo thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    sự việc đã xảy ra cách đây 6 năm

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015 (khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999) thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    - Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng.

    Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a, khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự 2017).

    - Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

    Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b, khoản 2 Điều 1 Bộ luật hình sự 2017).

    - Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

    Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c, khoản 2 Điều 1, Bộ luật hình sự 2017).

    Theo đó việc xác định tội phạm thuộc loại tội phạm nào trong bốn loại trên phải dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt được các nhà làm luật quy định tương ứng với tội danh ấy trong Bộ luật hình sự. Như đã phân tích, với mức án cao nhất của khung hình phạt cao nhất đối với người bạn của bạn là 5 năm tù  mà sự việc đã xảy ra gần 6 năm thì căn cứ điều luật ở trên thì người bạn đó phạm phải tội ít nghiêm trọng và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do đã hết thời hiệu.

  • Xem thêm     

    18/11/2020, 02:43:35 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật Cư trú 2006 mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản, khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật Cư trú 2006 mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

    Theo Điều 9 Thông tư 36/2014 của Bộ Công an hướng dẫn về Cách ghi phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu gồm 5 mục. Trong đó Mục 1 khai “Họ tên chủ hộ và “Quan hệ với chủ hộ” ; Mục 2 “Nội dung thay đổi nhân khẩu”;  Mục 3 “Ý kiến của chủ hộ”: Phải ghi rõ ý kiến của chủ hộ là đồng ý cho đăng ký thường trú, tạm trú hoặc cho tách sổ hộ khẩu, chủ hộ ký và ghi rõ ngày, tháng, năm; Mục 4 Xác nhận của công an (lưu ý trường hợp mất sổ hộ khẩu thì chủ hộ phải đứng ra khai và đề nghị cấp lại sổ hộ khẩu).  

    Điều 14 Thông tư 36 năm 2014 của Bộ Công an cũng quy định: Nếu tách cả hộ thì cơ quan công an nơi cấp giấy chuyển hộ khẩu phải ghi rõ chuyển cả hộ đi để thông báo cho cơ quan nơi đăng ký thường trú chuyển đến. Trước khi cấp sổ hộ khẩu mới, cơ quan công an nơi đăng ký thường trú chuyển đến thu lại sổ hộ khẩu cũ để lưu lại tàng thư hồ sơ hộ khẩu

    Như vậy, bạn không thể chuyển hộ khẩu, tách khẩu nếu không có ý kiến của chủ hộ vì luật quy định bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ hộ bằng văn bản. Cụ thể, khi bạn khai những giấy tờ như Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu hay giấy chuyển khẩu thì cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải ghi thông tin về chủ hộ và mối quan hệ với chủ hộ.

    Đồng thời trong mẫu Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (mẫu HK02) có mục “Ý kiến của chủ hộ”. Do đó nếu chủ hộ không đồng ý xác nhận, giúp đỡ anh trong vấn đề này thì anh khó có thể thực hiện. 

    Khi đã được sự đồng ý của chủ hộ và hoàn tất các giấy tờ, anh mới làm thủ tục tiếp theo là tách hộ khẩu. Hồ sơ bao gồm: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu nhân khẩu (mẫu HK02); Sổ hộ khẩu; Văn bản thể hiện sự đồng ý của chủ hộ. Hồ sơ gửi Cơ quan Công an cấp huyện.

    Thời hạn giải quyết: trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả cho bạn; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bạn bằng văn bản và nêu rõ lý do.

  • Xem thêm     

    18/11/2020, 02:46:03 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Cảm ơn bạn đã đọc, không có gì

  • Xem thêm     

    18/11/2020, 02:50:35 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Cảm on bạn đã đọc

  • Xem thêm     

    18/11/2020, 05:06:28 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Căn cứ theo quy định tại Điều 651 về Người thừa kế theo pháp luật của Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Đối với trường hợp này của bạn, do bố mẹ bạn chết không để lại di chúc do đó theo quy định của pháp luật thì những người được hưởng di sản của bố mẹ bạn bao gồm: ông bà nội bạn (nếu còn sống), ông bà ngoại bạn (nếu còn sống), bạn và 3 anh chị em của bạn được chia di sản thừa kế thành các phần bằng nhau.

    Đối với trường hợp bạn có chia sẻ tất cả mọi người trong hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật mà bố mẹ bạn để lại đều đồng ý cho bạn bán lô đất. Do đó, để bạn bán được lô đất trước hết những người đồng thừa kế lô đất bao gồm: ông bà nội bạn (nếu còn sống), ông bà ngoại bạn (nếu còn sống), 4 anh chị em phải lập mỗi người một văn bản từ chối di sản thừa kế và đem ra công chứng.

    Sau khi, những người đồng thừa kế được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ bạn lập văn bản từ chối di sản thừa kế có công chứng xong thì bạn phải ra văn phòng đăng ký đất đai ở huyện nơi có di sản thừa kế để hoàn tất hồ sơ giấy tờ để bạn đứng tên làm chủ sở hữu của mảnh đất. Sau khi hoàn tất thủ tục bạn đã đứng tên của lô đất thì bạn có quyền mua bán, chuyển nhượng lô đất đó cho người khác.

  • Xem thêm     

    18/11/2020, 09:36:49 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1505 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Năng lực này có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi họ chết đi.

    Một người bị tâm thần chỉ được xác định là mất năng lực hành vi dân sự khi được Tòa án ra quyết định dựa trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Khi đó, mọi giao dịch dân sự của người này đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015)

    Theo đó, Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, người đại diện theo pháp luật của người bị tâm thần bao gồm:

    - Người được lựa chọn tại thời điểm người này chưa bị tâm thần

    - Vợ hoặc chồng

    - Con nếu cha mẹ hoặc một trong hai người bị tâm thần

    - Cha, mẹ nếu người bị tâm thần đã thành niên, chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà những người này không đủ điều kiện

    Như vậy, người tâm thần bắt buộc phải được Tòa án tuyên bố bằng quyết định thì mới được coi là mất năng lực hành vi dân sự. Còn nếu không có thì người này vẫn được toàn quyền tự mình thực hiện giao dịch dân sự.

    Việc tặng cho nhà đất phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và phải đăng ký quyền sở hữu nếu là tài sản phải đăng ký.

    Ngoài ra, do mọi giao dịch dân sự của người tâm thần đều phải do người đại diện theo pháp luật của người đó thực hiện nên để người này được nhận nhà đất do cha, mẹ để lại thì phải được Tòa án tuyên bố đã mất năng lực hành vi dân sự.

    Sau đó, người đại diện theo pháp luật của người này có thể thực hiện các thủ tục công chứng hợp đồng tặng cho nhà, đất và sang tên sổ đỏ theo quy định của pháp luật.

105 Trang «<78910111213>»