Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang «<6789101112>»
  • Xem thêm     

    13/12/2020, 08:42:26 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Tại khoản 1 Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Đồng thời, Điều 335 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định: Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây là bên được bảo lãnh), nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên bảo lãnh thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

    Theo thông tin của bạn thì gia đình bạn đã dùng tài sản của mình thế chấp cho ngân hàng bảo đảm khoản vay của Công ty A. Vì Công ty A không thực hiện đúng nội dung của hợp đồng vay tài sản nên ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu trả nợ. Tòa án nhân dân đã tuyên nếu Công ty A không trả tiền thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của gia đình bạn theo Hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi nợ cho ngân hàng.

    Do đó, theo các quy định nêu trên, nếu hết thời gian tự nguyện thi hành án mà Công ty A không thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền kê biên, xử lý tài sản của bạn để thu hồi nợ cho ngân hàng mà không phụ thuộc vào việc Công ty A có điều kiện thi hành án hay không.

    Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh bố mẹ bạn có quyền yêu cầu Công ty A thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh mà bạn đã thực hiện theo quy định tại Điều 340 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Như vậy để tránh việc phải gánh chịu khoản nợ và sắp bị kê biên cưỡng chế nhà đất thì gia đình bạn nên nêu rõ hoàn cảnh khó khăn về điều kiện kinh tế với phía ngân hàng và xin gia hạn trả nợ.

  • Xem thêm     

    08/12/2020, 02:20:20 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Căn cứ khoản 3 Điều 126 Luật đất đai 2013 quy định:

    Điều 126. Đất sử dụng có thời hạn

    3. Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.”

    Như vậy, đối chiếu với quy định trên, trong trường hợp của bạn, khi Công ty bạn muốn làm lại sổ hồng nhưng chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ở ổn định lâu dài sang đất sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ – đất phi nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc được phê duyệt dự án đầu tư thì thời hạn sử dụng đất không quá 50 năm.

    Bên cạnh đó, thời hạn cũng có thể kéo dài là 70 năm đối với các dự án đầu tư thương mại dịch vụ lớn và quá trình thu hồi vốn chậm hoặc các dự án đầu tư thương mại dịch vụ tại các khu vực mà có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn cần thời hạn đầu tư dài hơn.

  • Xem thêm     

    07/12/2020, 08:54:51 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Bạn mua đất sổ chung qua văn phòng luật sư, thực ra đó là hình thức mua bán, chuyển nhượng nhà đất chỉ do hai bên lập và ký với nhau có người làm chứng là Văn phòng luật sư

    Việc làm chứng của Văn phòng luật sư là không trái với quy định pháp luật, nhưng nó không tuân thủ đầy đủ thủ tục theo luật định là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chúng thực. Văn phòng luật sư làm chứng cũng chỉ là người thứ 3 chỉ khác một điều Văn phòng luật sư sẽ kiểm tra nội dung giao dịch mình làm chứng có hợp pháp không.

    Việc mua bán như vậy thì rủi ro lớn hơn luôn thuộc về phía người mua. Người mua có thể phải đợi rất lâu mới có thể sang tên cho mình, thậm chí không sang tên được, hoặc đang làm thủ tục thì xảy ra tranh chấp, lúc đó phần thiệt hơn sẽ thuộc về phía người mua.

    Vậy nên nếu bạn buộc phải lựa chọn cách mua nhà đất đứng tên chung nhà đất như vậy thì về mặt pháp lý chỉ có thể có cách giúp cho bạn hạn chế rủi ro tránh bị mất tiền, mà không thể đảm bảo cho bạn sẽ giữ được nhà, đất đã mua nếu sau này không may xảy ra tranh chấp.

  • Xem thêm     

    07/12/2020, 03:02:09 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng đặt cọc như sau:

    “Điều 328. Đặt cọc

    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

    2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

    Căn cứ theo quy định trên, thì bạn từ chối giao kết hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng căn hộ thì bạn là người mất tiền cọc. Tuy nhiên trong trường hợp này, bạn hoàn toàn không từ chối việc giao kết trên nên không thể coi đây là việc từ chối giao kết hợp đồng đã thỏa thuận để làm cơ sở phạt cọc.

    Song bạn có đề cập đến bên môi giới bất động sản không chịu phần phí phạt ngân hàng mà cứ đùn đẩy cho nhau ảnh hưởng thời gian mua nhà của bạn dẫn đến việc lập hợp đồng bị chậm trễ. Nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc là bạn có nghĩa vụ chuẩn bị đầy đủ hổ sơ để lập hợp đồng và không chuẩn bị đầy đủ thì sẽ có điều khoản phạt tương ứng thì mới có cơ sở để bên nhận đặt cọc yêu cầu bạn bồi thường hoặc phạt cọc. Trong trường hợp các bên không hề có thỏa thuận nêu trên hoặc thỏa thuận khác tương tự thì bên đặt cọc không có cơ sở để yêu cầu bồi thường hay phạt cọc. Do vậy, nếu bạn đã thông báo nhưng bên nhận đặt cọc vẫn từ chối việc lập hợp đồng tại Văn phòng công chứng thì coi như bên đặt cọc đã từ chối giao kết hợp đồng.

  • Xem thêm     

    08/12/2020, 09:18:42 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Điểm e Khoản 2 Điều 118 Luật nhà ở 2014 trong đó có quy định Giao dịch về nhà ở sau đây thì nhà ở không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận trong đó có: “Chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại được xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả trường hợp đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư nhưng chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó.”

    Căn cứ theo Điều 123 Luật Nhà ở năm 2014, trường hợp bạn mua căn hộ chung cư chưa có Sổ hồng thì được phép bán thông qua hình thức chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại,  việc mua bán nhà ở phải được lập thành hợp đồng có các nội dung theo quy định.

    Tuy nhiên, căn hộ đó lại đang thế chấp nhà tại ngân hàng.  Căn cứ khoản 5 Điều 321 Bộ luật dân sự năm 2015, bên thế chấp có quyền: “Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.” Theo đó, bạn có thể nhận chuyển nhượng căn nhà (đang thế chấp ở ngân hàng) và làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất nếu được ngân hàng đồng ý.

    Nếu được ngân hàng đồng ý cho chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất đang thế chấp để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, việc chuyển nhượng sẽ tiến hành ba bên, nghĩa là giữa bên bán, bên mua và ngân hàng. Khoản tiền mua bán nhà sẽ được bên mua chuyển trực tiếp cho ngân hàng, cả gốc lẫn lãi của khoản vay. Ngân hàng sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho bên bán để bên bán giao cho bên mua cùng số tiền thừa (nếu còn).

    Thông thường, khoản tiền trả cho ngân hàng là khoản tiền của bên mua ứng ra, vì vậy trước khi nộp tiền cho ngân hàng, việc ứng tiền trước giữa bên bán và bên mua cần phải được lập thành văn bản để phòng ngừa rủi ro. Trong văn bản này cần ghi rõ việc bên mua ứng tiền cho bên bán để bên bán trả nợ ngân hàng; bên bán có nghĩa vụ bàn giao ngay sổ đỏ cho bên mua khi được ngân hàng trả lại; quy định về việc phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu bên bán không bán nhà, đất nữa.... Trong trường hợp Bên vay thay thế biện pháp bảo đảm hoặc đưa một tài sản khác vào bảo đảm.cho khoản vay và rút sổ đỏ ra để thực hiện giao dịch mua bán như bình thường.

    Sau khi bên có nghĩa vụ được bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng hoặc thay thế biện pháp bảo đảm,/tài sản bảo đảm như nêu trên, ngân hàng sẽ trả lại hợp đồng mua bán căn hộ và ra thông báo giải chấp và chủ hợp đồng có thể thực hiện thủ tục xóa đăng ký thế chấp tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm(Văn phòng đăng ký đất đai).

    Sau khi hoàn tất các thủ tục với ngân hàng, hai bên đến Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng để làm chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại. Người bán và người mua cần xuất trình chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn của 2 vợ chồng (nếu đã kết hôn) hoặc nếu chưa kết hôn hay đã ly hôn thì phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân) và hợp đồng mua bán căn hộ sẽ chuyển nhượng; sau khi thực hiện công chứng, các bên cùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí, bên nhận chuyển nhượng nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị chủ đầu tư xác nhận vào văn bản chuyển nhượng hợp đồng.

  • Xem thêm     

    08/12/2020, 09:58:01 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Trường hợp này, có mua đất lại của người A nhưng chưa làm sang tên đổi chủ, chỉ có giấy tờ viết tay theo quy định của pháp luật việc mua bán này không đúng quy định cho nên cần phải hoàn thiện về hình thức của hợp đồng mua bán là phải công chứng hoặc chứng thực hợp đồng.

    Nay bạn muốn làm sang tên nhưng người A đã mất. Như vậy khi người chồng chết nhưng không để lại di chúc, phần tài sản để lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế, Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 quy định:
    Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Để tiếp tục và hoàn thiện về hình thức của hợp đồng mua bán, các đồng thừa kế phải tiến hành phân chia di sản thừa kế tại văn phòng công chứng và khi những người này cùng đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bạn sẽ là người được ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bạn và các đồng thừa kế của ông chồng với bạn phải làm thành hợp đồng công chứng hoặc chứng thực.

    Sau khi ký hợp đồng mới, bạn liên hệ cơ quan Đăng ký đất đai để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất.

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 08:24:22 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, để xác minh giám định dấu vân tay thì có thể tiến hành giám định tại các  Văn phòng giám định tư pháp, Trung tâm giám định tư pháp.

    Dấu vân tay phải nhận thấy bằng mắt thường, dấu vân tay chia làm hai loại là vân nhìn thấy (hay vân nổi) và không nhìn thấy (hay vân chìm). Vân nổi có thể dễ dàng tìm thấy được vì chúng nổi lên trên các bề mặt khi bụi đất, mực, sơn, dầu... mà người có dấu vân tay để lại trên bề mặt.

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 08:33:18 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013:

    “Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

    + Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

    + Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

    + Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

    + Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”

    Theo đó khi thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp nhầm thời điểm mà bạn không biết bạn cần làm đơn đề nghị đính chính gửi tới Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp quận, huyện, kèm theo đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ khác chứng minh thông tin có sai lệch để đề nghị giải quyết.

    Theo đó nếu việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn mà cơ quan nhà nước giải quyết không được, bạn sẽ làm đơn khiếu nại lên chủ tịch ủy ban nhân dân, nếu việc chủ tịch UBND cấp huyện không giải quyết thỏa đáng theo yêu cầu của bạn thì bạn có quyền khiếu nại lên chủ tịch tỉnh. Hoặc bạn giải quyết theo con đường tố tụng là giải quyết ra toàn án, 

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 10:01:56 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:

    “4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:

    a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;

    b) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên;

    c) Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất;

    d) Có thay đổi về tài sản gắn liền với đất so với nội dung đã đăng ký;

    đ) Chuyển mục đích sử dụng đất;

    e) Có thay đổi thời hạn sử dụng đất;

    g) Chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê; từ hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang hình thức thuê đất; từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

    h) Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng;

    i) Chia tách quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức hoặc của hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất;

    k) Thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật;

    l) Xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề;

    m) Có thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất.”

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định nào quy định về hạn chế thời gian thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai. Tuy nhiên, nếu thuộc một trong các trường hợp đăng ký biến động quy định tại các điểm a, b, h, i, k và l khoản 4 Điều 95 Luật đất đai thì trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày có biến động, người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động; trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

    Theo đó, nếu trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày có biến động mà người sử dụng đất không làm thủ tục đăng ký biến động đất đai thì có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

  • Xem thêm     

    02/12/2020, 11:17:37 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Theo Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013:

    “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”

    Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực khi đăng ký vào sổ  địa chính. Nếu hai bên làm hợp đồng chuyển nhượng nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì người mua sẽ không có quyền chuyển nhượng, tặng cho, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn quyền sở hữu mảnh đất đó.

    Trường hợp của bạn mua đất bằng giấy tay qua nhiều đời chủ mà chưa sang tên thì giao dịch không có hiệu lực, không được pháp luật công nhận dù bên mua đã thanh toán xong tiền mua nhà đất nhưng quyền sử dụng đất vẫn thuộc người bán.

    Nếu bạn là người mua cuối cùng muốn giao dịch mua bán của mình hợp pháp và có hiệu lực pháp luật thì cần liên hệ với người bán đầu tiên (đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đất) để thỏa thuận và làm hợp đồng mua bán nhà đất có công chứng, chứng thực. Hoặc một hướng khác là người mua và người bán đầu tiên thực hiện thủ tục chuyển nhượng, sau đó người mua đầu tiên chuyển nhượng lại cho người mua cuối.

    Mua đất giấy tay qua nhiều đời chủ mà trước ngày 1/7/2014 sẽ có một số trường hợp như sau:

    - Nếu chủ cũ chưa có giấy chứng nhận

    Giấy chứng nhận được cấp cho người đang sử dụng đất khi mua đất chưa có sổ đỏ, không phải cho chủ cũ, nếu đủ điều kiện. Một số địa phương sẽ cấp giấy chứng nhận cho chủ cũ rồi mới chuyển nhượng cho người mua sau cùng.

    - Nếu chủ cũ được cấp giấy chứng nhận

    Nếu bên mua chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển nhượng hoặc hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, chứng thực thì không phải thực hiện thủ tục sang tên mà thực hiện thủ tục sau đây để được giấy chứng nhận mang tên mình.

  • Xem thêm     

    02/12/2020, 11:30:28 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Theo như bạn trình bày, thì giữa bạn và chủ nhà trọ đã thỏa thuận bằng miệng với nhau về đặt cọc thuê nhà trọ. Theo đó thì bạn đã đặt cọc trước 1 triệu đồng và thêm 650.000 VND cho tháng 11 . Tuy nhiên bạn có ý định không muốn thuê nữa vì chủ trọ đến nay vẫn chưa chịu sửa lại nhà vệ sinh lẫn phòng ở để có thể dọn vào nên bạn yêu cầu chủ trọ không thuê nữa và trả lại tiền nhưng chủ trọ không trả.

    Tuy nhiên, vì lý do là vẫn chưa chịu sửa lại nhà vệ sinh lẫn phòng ở để có thể dọn vào, do vậy không thể tiếp tục hợp đồng thuê nhà với chủ nhà trọ.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự 2015, đặt cọc được hiểu là:

    “Điều 328. Đặt cọc

    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

    2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

    Áp dụng quy định này vào trường hợp của bạn cụ thể là bên cho thuê đã không sửa chữa nhà ở khi nhà ở có hư hỏng nặng cụ ảnh hưởng đến cuốc sống sinh hoạt. Do vậy, bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng với bên thuê nhà. Tuy nhiên, bạn phải thông báo cho bên cho thuê thì mới có thể lấy lại tiền đặt cọc. 

    Như vậy, nếu một bên trong hợp đồng vi phạm (chủ nhà trọ) thì bạn có quyền khởi kiện họ ra tòa án có thẩm quyền để giải quyết. Tuy nhiên, trường hợp này bạn nên thương lượng với chủ nhà trọ được là tốt nhất, hoặc bạn cũng có thể làm đơn tới UBND phường để nhờ Ủy ban xem xét, hòa giải.

  • Xem thêm     

    02/12/2020, 04:10:08 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Trước hết đất của bạn là đất thổ vườn, nghĩa là thửa đất bao gồm đất vườn và đất thổ cư. Để có thể tách thửa thì cần phải tuân theo quy định về diện tích đất tối thiểu để tách thửa. Diện tích tối thiểu để tách thửa đất ở, đất nông nghiệp được quy định tại quyết định của UBND cấp tỉnh trên địa bàn gia đình bạn đang ở.Do đó, diện tích đất ở của bạn có lẽ không đủ điều kiện để tách thửa thành đất ở mà phải chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở thì mới đúng quy định.

  • Xem thêm     

    02/12/2020, 04:22:08 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015 là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định giảm nhẹ hình phạt đối với người phạm tội.

    Ngoài ra, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc “tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Trong đó, căn cứ Điểm 5 Mục I Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019 và Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP thì các "tình tiết khác" bao gồm:

    - Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

    - Bị cáo có anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

    - Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31 % trở lên;

    - Người bị hại cũng có lỗi;

    - Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

    - Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

    - Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

    - Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

    Và trong từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

    Như vậy đây được xem là điều luật mở nhằm tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử có thể linh hoạt mở lượng khoan hồng cho người phạm tội trong trường hợp luật chưa quy định cụ thể. Xét về bản chất các tình thiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 nói chung không phải là các tình thiết giảm nhẹ chủ yếu bởi các tình tiết này không làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Song như đã nêu ở trên xuất phát từ chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước mà người phạm tội là lao động hay hoàn cảnh gia đình khó khăn có thể được xem là các tình thiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó hoàn toàn có thể hiểu rằng các tình thiết mà bạn đã nêu có thể được xem là tình thiết giảm nhẹ TNHS cho bố bạn.

  • Xem thêm     

    02/12/2020, 04:29:59 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai 2013 thì đăng ký biến động đất đai được thực hiện khi người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi. Đây là một nội dung có nhiều quy định trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai và bảo đảm quyền và lợi ích cho người sử dụng đất.

  • Xem thêm     

    24/11/2020, 10:02:27 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Không vấn đề gì bạn nhé!

  • Xem thêm     

    24/11/2020, 10:30:24 CH | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

    “Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

    1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

    2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

    Theo đó, vấn đề tài sản, nuôi con được giải quyết theo quy định của Luật HN&GĐ như sau:

    - Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn: tức là vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    Vậy nên, nếu xét thấy một trong hai người mà có đủ các điều kiện như: thu nhập hàng tháng, có nơi sinh sống ổn định, có thời gian chăm sóc tốt cho con,... và xem xét nguyện vọng của hai cháu muốn ở với ai thì tòa sẽ quyết định ai được quyền nuôi con.

    - Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

    Trong trường hợp này, về nhà và đất mà hai vợ chồng ông bà bạn xây dựng thì tòa sẽ xem xét công sức đóng góp của từng người để quyết định, nên trường hợp bà bạn tiếp tục được sử dụng nhà và đất này thì có nghĩa vụ trả phần giá trị tài sản tương ứng với công sức mà người chồng đóng góp vào.

  • Xem thêm     

    25/11/2020, 03:24:31 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Bố mẹ bạn khi mất không để lại di chúc nên tài sản của bố mẹ bạn sẽ được thừa kế theo pháp luật.

    Theo đó, Điều 651 BLDS 2015 quy định như sau:

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Bạn và anh em bạn là con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Do trường hợp của bạn không có di chúc nên về nguyên tắc phải chia theo luật  và năm anh em đồng ý chia theo thoả thuận và có ra xã công chứng đóng mộc đỏ. Hiện giờ và bây giờ 4 người em đòi kiện chia lại thì họ phải có nghĩa vụ chứng minh trước tòa án việc phân chia này là bất hợp pháp.

    Nếu trường hợp bốn anh chị em bạn không có chứng cứ gì để chứng minh di sản này la do ông bà để lại và hiện nay bạn đã đứng chủ quyền thì anh chị em của bạnsẽ rất khó khăn để yêu cầu phân chia.

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 07:54:11 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Việc xác định đất nằm trong đất đó là của xã hội hoặc quỹ đất công ích xã phường không phải là trường hợp đất có tranh chấp. Đối với trường hợp này của bạn,để xác định việc ủy ban nhân dân đưa đất gia đình sử dụng từ trước (thời các cụ để lại) vào quỹ đất công ích xã, phường có đúng quy định pháp luật hay không thì cần phải làm rõ các nội dung sau: “Căn cứ đưa đất sử dụng của gia đình vào quỹ đất công ích là gì? thời điểm năm bao nhiêu? quyết định, văn bản công nhận quỹ đất công ích của cơ quan có thẩm quyền...”. Việc kiểm tra các nội dung trên thì gia đình có thể làm đơn gửi ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng đăng ký đất đai của huyện để yêu cầu xem trích lục bản đồ hồ sơ địa chính, sổ mục kê...để có căn cứ xác định giải quyết ủy ban nhân dân có phù hợp pháp luật không?. Đông thời có thể làm đơn kiến nghị/khiếu nại khi có căn cứ chứng minh việc xác định đất công ích của gia đình là không đúng pháp luật.

    Do thông tin bạn cung cấp không rõ về vấn đề Ủy ban nhân dân xã có ra bất kỳ quyết định thu hồi đất đối với gia đình bạn hay không cho nên chưa thể xác định giữa bạn với Ủy ban nhân dân cấp xã có tranh chấp với nhau hay không. Do đó, nếu sau khi xem xét các giấy tờ thể hiện đất nay không phải là đất nông nghiệp sử dụng mục đích  công ích của xã mà không thuộc trường hợp có quyết định thu hồi đất hoặc kế hoạch đất sử dụng đất hằng năm mà xã ra quyết định thu hồi đất của gia đình bạn thì gia đình bạn có quyền khiếu nại ra Ủy ban nhân dân huyện hoặc khởi kiện ra Tòa án để giải quyết.

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 08:05:27 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Tại văn bản luật chuyên ngành, những giao dịch pháp luật bắt buộc phải có công chứng, chứng thực như hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

    Gia đình bạn mua bán đất đai bằng giấy viết tay theo quy định Bộ Luật dân sự năm 2015 thì sẽ bị vô hiệu vì vi phạm về mặt hình thức, nhưng lần đầu tiên ghi nhận các ngoại lệ để Tòa án có thể công nhận giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức có thể được công nhận hiệu lực theo khoản 2 Điều 129 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì nếu các bên vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, khi giải quyết thì Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó và các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

    Tuy nhiên, không phải việc một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì giao dịch đó đương nhiên có hiệu lực, mà cần có thêm điều kiện là phải thông qua con đường Tòa án.

    Vì vậy nếu gia đình bạn là một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán đất đai bằng giấy viết tay thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

  • Xem thêm     

    29/11/2020, 08:14:48 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2129)
    Số điểm: 12100
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1504 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 79, Luật Đất đai năm 2013 và Khoản 2, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì: Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

    Như vậy, việc gia đình bạn sẽ được nhận bồi thường bằng đất hay bằng tiền phụ thuộc vào điều kiện thực tế của gia đình và sự xem xét của địa phương. Để đảm bảo quyền lợi của mình, khi Nhà nước thu hồi đất, gia đình bạn hãy làm đơn trình bày cụ thể về điều kiện, hoàn cảnh và nguyện vọng của gia đình để địa phương xem xét.

    Gia đình bạn bị thu hồi đất và có Quyết định giải toả từ năm 2014 để thực hiện dự án theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. Theo đó, gia đình bạn có thể được xem xét bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 74 Luật Đất đai 2013:

    “Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

    1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

    2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

    3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.”

    Như vậy, mức giá đất bồi thường sẽ căn cứ theo giá đất của địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Quyết định thu hồi đất ban hành ở thời điểm nào thì giá đất để xác định áp dụng hệ số điều chỉnh khi tính mức bồi thường là ở thời điểm đó.

105 Trang «<6789101112>»