PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013

Chủ đề   RSS   
  • #372526 04/03/2015

    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013

    GIỚI THIỆU

     

    Ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 2013 (có hiệu lực từ 01/01/2014[1]), như vậy sau hơn 21 năm nước ta đã có bản Hiến pháp mới, Hiến pháp của thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển[2]. Hiến pháp là Luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp, mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý[3].

     

    Mỗi bản Hiến pháp đều có vai trò, sứ mệnh lịch sử riêng nhưng tựu chung lại đều góp phần phát triển đất nước, công bằng, dân chủ và văn minh. Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện, thời gian để hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về Hiến pháp; một bộ phận không nhỏ coi Hiến pháp là điều cao xa. Nhằm đưa Hiến pháp đến gần gũi với quần chúng nhân dân, tác giả sẽ phân tích toàn văn Hiến pháp 2013, nêu ra những điểm mới cơ bản của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992[4]

     

     

    PHẦN 1: TỔNG QUAN CHUNG HIẾN PHÁP 2013

     

    Hiến pháp 2013 bao gồm 11 chương và 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp 1992). Hiến pháp 2013 chỉ giữ nguyên 5 điều, bổ sung 12 điều mới và sửa đổi 103 điều. Trong đó có sự sắp xếp lại các chương, như sau:

     

    - Chương 11: Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô, ngày quốc khánh được ghép vào Chương 1.

     

    - Chương 5: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đưa lên Chương 2 với tên gọi quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

     

    - Một chương hoàn toàn mới, đó là chương 10: Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước.

     

    Đặc biệt, từ “nhân dân” được thay thế bằng từ “Nhân dân” nhằm đề cao hơn nữa vai trò của Nhân dân.

    Xem danh sách tổng quan so sánh Hiến pháp 1992 với 2013 tại phụ lục 3.1.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem điều 1 Nghị quyết 64/2013/QH13 ngày 28/11/2013 của Quốc hội.

    [2] Đến nay nước ta đã trải qua các bản Hiến pháp sau 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

    [3] Xem khoản 1 điều 119 Hiến pháp 2013.

    [4] “Hiến pháp 1992” được hiểu là nội dung đã được “hợp nhất” của Hiến pháp 1992 và Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội (sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992).

     

     
    184118 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

7 Trang <1234567>
Thảo luận
  • #375373   21/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (038)

    2.3.23 Hôn nhân và gia đình[1]

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 64

    Gia đình là tế bào của xã hội.

    Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

    Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

    Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

    Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

    Điều 36.

    1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

    2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 64 của Hiến pháp 1992. So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 quy định ngắn gọn, xúc tích hơn, theo đó điều này quy định những nội dung sau:

     

    - Một là, nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

     

    + Điều kiện kết hôn: nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình 2000[2].

     

    + Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính[3].

     

    + Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn[4].

     

    Như vậy, bỏ đoạn “Gia đình là tế bào của xã hội” vì nó mang tính khẩu hiệu là chính.

     

    - Hai là, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

     

    Như vậy, câu này đã bao hàm ý của đoạn “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” của Hiến pháp 1992.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem thêm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

    [2] Xem thêm điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

    [3] Xem thêm điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

    [4] Xem thêm điều 85 Luật hôn  nhân và gia đình  năm  2000.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #375374   21/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (039)

    2.3.24 Trẻ em, thanh niên, người cao tuổi[1]

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 65

    Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

    Điều 66

    Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

     

    Điều 37.

    1. Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.

    2. Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

    3. Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 65 và 66 của Hiến pháp 1992. Điều này quy định các vấn đề sau:

     

    - Một là, trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.

     

    Nội dung này được quy định chi tiết hơn Hiến pháp 1992 nhằm đảm bảo quyền lợi cho trẻ em vì đây là thế hệ tương lai của đất nước.

     

    - Hai là, thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

     

    Thanh niên là lực lượng nòng cốt xây dựng và phát triển đất nước bởi vậy phải tạo điều kiện tốt nhất cho thanh niên.

     

    - Ba là, người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     

    Đây là quy định mới của Hiến pháp 2013 nhằm bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi để họ phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem Luật người cao tuổi năm 2009.

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phamthanhhuu vì bài viết hữu ích
    thuyilaw (24/03/2015)
  • #375616   23/03/2015

    lelanpgddtps
    lelanpgddtps

    Sơ sinh

    Quảng Nam, Việt Nam
    Tham gia:06/09/2013
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tại sao nói Điều 33 Hiến pháp năm 2013 " Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" Là qui định tiến bộ so với Hiến pháp 1992

     
    Báo quản trị |  
  • #375796   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (040)

    2.3.25 Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 39

    Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ.

    Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số.

    Nghiêm cấm tổ chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khoẻ của nhân dân.

    Điều 61

    Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

    Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.

    Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

    Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

    Điều 38. 

    1. Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 39 của Hiến pháp 1992. So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 quy định ngắn gọn và súc tích hơn, theo đó, quy định những vấn đề sau:

     

    - Một là, mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.

     

    Nội dung này khẳng định quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của mọi người là ngang nhau và mọi người phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định.

     

    - Hai là, nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng.

     

    Đây là quy định tất yếu nhằm đảm bảo cuộc sống, sức khỏe của mọi người và toàn cộng đồng.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

    Cập nhật bởi phamthanhhuu ngày 24/03/2015 03:54:16 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #375797   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (041)

    2.3.26 Học tập là quyền và nghĩa vụ

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 59. Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.

    Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.

    Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

    Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

    Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp.

    Điều 39.

    Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập.

     

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 59 Hiến pháp 1992. Theo đó mọi người có quyền được học tập, tuy nhiên học tập không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của công dân. Như vậy, trong những trường hợp nhất định công dân bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ học tập của mình.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phamthanhhuu vì bài viết hữu ích
    Dothanhdat12 (23/11/2019)
  • #375799   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (042)

    2.3.27 Quyền nghiên cứu khoa học, công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hượng lợi ích từ các hoạt động đó.

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 60

    Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

    Điều 40. 

    Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 60 của Hiến pháp 1992. Điểm mới cơ bản của điều này so với Hiến pháp 1992 là từ “công dân” được thay thế thành “mọi người”, như vậy không chỉ có công dân mới có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuât... mà là: Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #375800   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (043)

    2.3.28 Quyền thụ hưởng và tiếp cận các giá trị văn hóa

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

     

    Điều 41.

    Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.

     

    Đây là quy định mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992, theo đó: mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. Như vậy, Hiến pháp 2013 đã bảo đảm về mặt giá trị tinh thần cho đời sống của Nhân dân.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #375803   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (044)

    2.3.29 Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

     

    Điều 42.

    Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.

     

    Đây là quy định mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992, theo đó: công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chon ngôn ngữ giao tiếp. Điều này thể hiện Hiến pháp 2013 đã bảo đảm các quyền lợi chính đáng của công dân về việc xác định dân tộc và sử dụng ngôn ngữ.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #375806   24/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (045)

    2.3.30 Quyền và nghĩa vụ với môi trường[1]

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

     

    Điều 43. 

    Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

     

    Trước tình hình ô nhiểm môi trường ngày một nghiêm trọng, Hiến pháp 2013 đã dành một điều khoản quy định: mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Như vậy, đây là cơ sở để các văn bản dưới Hiến quy định chi tiết hướng dẫn vấn đề này.

    a. Nguyên tắc bảo vệ môi trường[2]:

     

    - Một là, bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.

     

    - Hai là, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

     

    - Ba là, hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.

     

    - Bốn là, bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.

     

    - Năm là, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

     

    b. Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường[3]:

     

    - Một là, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.

     

    - Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường.

     

    - Ba là, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.

     

    - Bốn là, ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.

     

    - Năm là, đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm.

     

    - Sáu là, ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.

     

    - Bảy là, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.

     

    - Tám là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.

     

    - Chín là, phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem thêm Luật bảo vệ môi trường năm  2005.

    [2] Xem thêm điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.

    [3] Xem thêm điều 5 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phamthanhhuu vì bài viết hữu ích
    tunango195 (27/03/2015)
  • #376697   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (046)

    2.3.31 Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 76

    Công dân phải trung thành với Tổ quốc.

    Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

    Điều 44.

    Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc.

    Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 76 của Hiến pháp 1992. Điều này quy định những vấn đề sau:

     

    - Một là, Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc.

     

    So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 thay từ “phải” thành “có nghĩa vụ” điều này khẳng định trung thành với Tổ quốc là nghĩa vụ của công dân, bắt buộc công dân thực hiện.

     

    - Hai là, phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

     

    Nghĩa là, mọi hành vi phản bội Tổ quốc đều bị nghiêm trị.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376699   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (047)

    2.3.32 Bảo vệ tổ quốc[1]

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 77

    Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

    Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

    Điều 45.

    1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

    2. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. 

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 77 của Hiến pháp 1992. So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 chỉ có sự chỉnh sửa hình thức điều này từ hai đoạn thành hai khoản, theo đó quy định những nội dung sau:

     

    - Một là, bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

     

    Nghĩa là, bảo vệ Tổ quốc không phải là nghĩa vụ bình thường như bao nghĩa vụ khác mà là nghĩa vụ thiêng liên đồng thời là quyền cao quý của công dân bởi vậy công dân cần phải trân trọng điều này.

     

    - Hai là, công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nên quốc phòng toàn dân.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem thêm Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981; Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 1990; Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 1994; Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 2005.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #376700   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (048)

    2.3.33 Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia an toàn xã hội

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 79

    Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

    Điều 46.

    Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 79 của Hiến pháp 1992. So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 bỏ nghĩa vụ “giữ gìn bí mật quốc gia” của công dân. Đã bảo là bí mật quốc gia thì công dân sẽ không biết được nên việc quy định công dân phải giữ gìn bí mật quốc gia là không cần thiết, nên việc bỏ quy định này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376701   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (049)

    2.3.34 Nghĩa vụ nộp thuế

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 80

    Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.

    Điều 47.

    Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 80 của Hiến pháp 1992. So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 có những điểm mới sau:

     

    - Một là, mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định chứ không chỉ có công dân mới có nghĩa vụ nộp thuế.

     

    - Hai là, bỏ quy định công dân phải có nghĩa vụ lao động công ích.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376703   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (050)

    2.3.35 Nghĩa vụ của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 81

    Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

    Điều 48.

    Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 81 của Hiến pháp 1992. Về cơ bản, Hiến pháp 2013 chỉ bỏ từ “Nhà nước” trong Hiến pháp 1992 còn ý nghĩa không hề thay đổi. Theo đó, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam và được bảo hộ tính mạng, tài sản, các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376705   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (051)

    2.3.36 Cho phép người nước ngoài đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội mà bị bức hại được cư trú tại Việt Nam

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 82

    Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

    Điều 49.

    Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét cho cư trú.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 82 của Hiến pháp 1992. Điều này được giữ nguyên so với Hiến pháp 1992, theo đó: Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét cho cư trú.

     

    Điều này thể hiện sự yêu chuộng hòa bình và ủng hộ sự tự do, độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp khoa học.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376707   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (052)

    2.4 Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, và môi trường

     

    2.4.1 Nền kinh tế Việt Nam

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 15.

    Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

    Điều 43

    Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.

    Điều 50.

    Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 15 và 42 của Hiến pháp 1992. Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế đồng thời gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     

    Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, bởi lẽ muốn đất nước vững mạnh thì phải phát triển kinh tế. Để phát triển kinh tế cần phải phát huy nội lực đồng thời hội nhập, hợp tác quốc tế cũng như gắn kết chặt chẽ các yếu tố liên quan khác.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376708   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (053)

    2.4.2 Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 15.

    Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

    Điều 16.

    Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng củacác thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.

    Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

    Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Điều 19.

    Kinh tế nhà nước được củng cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

    Điều 20

    Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

    Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

    Điều 21.

    Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.

    Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.

    Điều 22

    Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.

    Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

    Điều 23

    Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.

    Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.

    Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

    Điều 25.

    Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, phápluật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.

    Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.

    Điều 51.

    1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

    2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.

    3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 15, 16, 19, 20, 21, 22, 23 và 25 của Hiến pháp 1992. Theo đó quy định những vấn đề sau:

     

    - Một là, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

     

    Như vậy, thể hiện chính sách nhất quán của Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế, đó là tôn trọng các quy luật kinh tế thị trường nhưng nền kinh tế đó phải có sự điều chỉnh có định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.  Nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

     

    - Hai là, các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.

     

    Nghĩa là, nhà nước đề cao vai trò của các thành phần kinh tế và ghi nhận nó có vị trí quan trọng trong việc cấu thành nên nền kinh tế quốc dân. Nhà nước không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế mà tạo khuôn khổ pháp lý bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh một cách công bằng.

     

    - Ba là, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

     

    Với quy định này sẽ tạo động lực cho cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh để phát triển nền kinh tế. Nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh và trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì tài sản hợp pháp của họ cũng không bị quốc hữu hóa.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
  • #376709   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (054)

    2.4.3 Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 24

    Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.

    Điều 26

    Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.

    Điều 52.

    Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.

     

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 24 và 26 của Hiến pháp 1992. Theo đó, quy định những vấn đề sau:

     

    - Một là, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường.

     

    Nội dung này thể hiện, tuy nền kinh tế Việt Nam có sự điều tiết của nhà nước nhưng dựa trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường thì nó vẫn là nền kinh tế thị trường.

     

    - Hai là, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.

     

    Nhà nước thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước giúp nền kinh tế được hoạt động một cách đúng định hướng, ngăn chặn sai phạm để phát triển bền vững.

     

    - Ba là, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.

     

    Đây là quy định mang tính Hiến định và là nền tảng để các cơ quan quản lý nhà nước có chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân ngày một phát triển. Bởi thực tế Chính phủ đã có những văn bản quy định về phát triển kinh tế vùng.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     

     
    Báo quản trị |  
  • #376716   30/03/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (055)

    2.4.4 Tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 17

    Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

    Điều 18

    Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

    Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.

    Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

    Điều 53. 

    Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. 

     

     

    Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 17 và 18 của Hiến pháp 1992. Theo đó, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. 

    Điểm mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992 là đã quy định “Tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Trước đây quy định này chỉ được ghi nhận ở các văn bản Luật và dưới Luật. Như vậy, khẳng định tài sản công là tài sản thuộc sở hữu của Nhân dân thể hiện nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phamthanhhuu vì bài viết hữu ích
    tunango195 (30/03/2015)
  • #378319   09/04/2015

    phamthanhhuu
    phamthanhhuu
    Top 25
    Male
    Dân Luật bậc 1


    Tham gia:20/07/2012
    Tổng số bài viết (3536)
    Số điểm: 109378
    Cảm ơn: 401
    Được cảm ơn 4345 lần


    PHÂN TÍCH TOÀN VĂN HIẾN PHÁP 2013 (056)

    2.4.5 Đất đai[1]

     

    Hiến pháp 1992

    Hiến pháp 2013

    Điều 18

    Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

    Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.

    Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

    Điều 54. 

    1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.

    2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.

    3. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.

    4. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai. 

     

    Điều này được sửa đổi trên cơ sở điều 18. Theo đó, quy định những nội dung sau:

     

    - Một là, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.

     

    + Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai 2013[2].

     

    - Hai là, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ[3].

     

    - Ba là, nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật[4].

     

    - Bốn là, Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai[5]

     

    (Còn nữa - tiếp tục cập nhật cho đến khi hoàn thành)



    [1] Xem thêm Luật đất đai năm 2013.

    [2] Xem thêm điều 4 Luật đất đai năm 2013.

    [3] Xem thêm điều 52, 53, 54, 55, 56, 179 Luật đất đai năm 2013.

    [4] Xem thêm điều 61, 62, 63, 66, 67, 68, 69 Luật đất đai năm 2013.

    [5] Xem thêm điều 72 Luật đất đai năm 2013.

     

     
    Báo quản trị |