Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Đào Liên - daolienluatsu

  • Xem thêm     

    05/09/2017, 09:38:49 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    daolienluatsu
    daolienluatsu
    Top 75
    Female
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:11/11/2012
    Tổng số bài viết (836)
    Số điểm: 4505
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 416 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Vấn đề bạn hỏi liên quan đến lĩnh vực hộ tịch, Luật sư Đào Thị Liên – Công ty Luật Tiền Phong trả lời bạn như sau: 

    Điều kiện để được đăng ký thường trú vào thành phố trực thuộc trung ương là phải có nhà ở hợp pháp và phải cư trú tại địa phương ít nhất được hai năm (ngoại trừ trường hợp chuyển về ở với thân nhân theo quan hệ vợ chồng, quan hệ huyết thống được quy định tại Luật Cư trú). Nếu bạn đã sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh từ lâu nhưng mới đăng ký tạm trú được 1 năm, nay đã có nhà ở hợp pháp thì bạn cần thu thập thêm các tài liệu chứng minh như: xác nhận của CA cấp xã phường về thời gian cư trú thực tế hoặc nếu bạn đã làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh thì có thể bổ sung hợp đồng lao động, sổ bảo hiểm xã hội (tài liệu chứng minh việc sinh sống và làm việc tại Hồ Chí Minh) để cơ quan thẩm quyền xem xét giải quyết.

    Bạn liên hệ với Công an cấp quận nơi cư trú để thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, hồ sơ gồm có:

    - Bản khai nhân khẩu;

    - Phiếu báo thay đổi nhân/hộ khẩu

    - Giấy chuyển hộ khẩu do CA cấp huyện nơi đăng ký thường trú trước đây xác nhận;

    - Tài liệu chứng minh nhà ở hợp pháp;

    - Tài liệu chứng minh thời gian cư trú (sổ tạm trú, hợp đồng lao động, sổ bảo hiểm xã hội...)

    Hồ sơ đăng ký thường trú của bạn sẽ được giải quyết trong thời hạn 15 ngày, nếu không được chấp thuận thì Cơ quan công an sẽ có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của luật sư, hi vọng giúp bạn làm sáng tỏ được vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trường hợp bạn còn băn khoăn hoặc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể điện đến tổng đài tư vấn pháp luật của Luật Tiền Phong số 1900 6289 để được hỗ trợ! 

    Thân chúc bạn sớm đạt được nguyện vọng chính đáng của mình.

    Thân mến.

  • Xem thêm     

    29/11/2014, 09:30:32 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    daolienluatsu
    daolienluatsu
    Top 75
    Female
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:11/11/2012
    Tổng số bài viết (836)
    Số điểm: 4505
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 416 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Vấn đề bạn hỏi, Luật sư Đào Thị Liên  - Công ty Luật Tiền Phong xin được tư vấn cho bạn như sau: 

    1. Quy định của pháp luật về lãi suất

    Theo điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì:

    1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

    2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

    Như vậy, hiện nay phía công ty PPF đang cho bạn vay với mức lãi suất cao hơn mức pháp luật quy định, việc này nếu tranh chấp phải đưa ra tòa án sẽ bị xử lý như thế nào vui lòng xem nội dung tư vấn của chúng tôi ở phần 2 như sau.

    2. Vi phạm nghĩa vụ thanh toán và giải quyết vướng mắc, tranh chấp.

    Như bạn trao đổi, hiện nay bạn đang chậm thanh toán để yêu cầu công ty PPF phải xem xét phần lãi suất cũng như cho bạn được thanh lý hợp đồng trước thời hạn.

    Theo chúng tôi, về phần lãi suất bạn nên dẫn chiếu điều 476 Bộ Luật Dân sự để làm căn cứ đàm phán với công ty PPF, đồng thời, bạn nên có văn bản gửi chuyển phát đến công ty nêu rõ lý do chậm thanh toán (để đàm phán lại điều khoản hợp đồng vay cho phù hợp quy định của pháp luật) nên yêu cầu công ty này không tính lãi suất chậm trả cũng như không phạt hợp đồng (nếu có).

    Trường hợp công ty PPF không đồng ý, bạn có thể khởi kiện ra tòa để xem xét lại các điều khoản của hợp đồng. Nếu nhận thấy trong hợp đồng có điều khoản lãi suất trái pháp luật, tòa án sẽ tuyên điều khoản này vô hiệu phần lãi suất tính vượt quá mức quy định của luật. 

    Về việc thanh lý hợp đồng trước thời hạn, nếu hợp đồng không quy định thì bạn cũng có quyền đề xuất và tự động tính mức lãi suất của số tiền còn lại của mình rồi thanh toán cho công ty PPF bằng hình thức chuyển khoản. Vì không thỏa thuận nên công ty không thể coi việc bạn tất toán hợp đồng trước hạn là vi phạm pháp luật.

    Trên đây là các ý kiến tư vấn của luật sư, hi vọng làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Nếu bạn còn băn khoăn hoặc cần tư vấn thêm, vui lòng điện thoại về tổng đài tư vấn pháp luật của Luật Tiền Phong số 04-1088/4/3 để được trợ giúp.

    Thân chúc bạn và gia đình sức khỏe, thành công.

    Trân trọng./. 

  • Xem thêm     

    09/07/2014, 06:49:36 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    daolienluatsu
    daolienluatsu
    Top 75
    Female
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:11/11/2012
    Tổng số bài viết (836)
    Số điểm: 4505
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 416 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    1. Như đã trời bạn   (1) việc sang tên chủ quyền xe theo quy định của pháp luật hiện hành, bắt buộc phải có hợp đồng mua bán xe và (2) nếu việc mua bán chưa có hợp đồng, sau 1 thời gian sử dụng, xe của bạn ấy bị tình nghi là tài sản trộm cắp thì bạn ấy cần phải chứng minh tính ngay tình của mình (không biết được chiếc xe này là tài sản trộm cắp), giao dịch mua bán với người bán (mà không phải là chủ xe) dựa trên sự chủ quan, không nắm vững các quy định của pháp luật (chứ không phải là do được hứa hẹn bán rẻ khi tiêu thụ giúp đồ gian), từ đó bảo vệ được mình (không bị liên đới trong vụ án hình sự trộm cắp tài sản) và bảo vệ được tài sản của mình (được đòi lại tiền từ người bán xe).

    Giả thiết bạn đặt ra là người mua xe tự đi sang tên là một việc làm rất khó nếu không muốn nói là không thể thực hiện được vì mua xe gian chắc chắn sẽ không có hợp đồng mua bán được ký hợp pháp với chủ xe, và như vậy thì không thể đăng ký sang tên được. Pháp luật có quy định đối với một số trường hợp xe cũ mua bán qua nhiều đời chủ (xe cũ sử dụng từ lâu) mà hiện nay không thể tìm được chủ xe, cũng không nằm trong diện theo dõi xe gian (theo đơn trình báo của người mất) thì vẫn cho đăng ký lại chủ xe, trường hợp này không giốngtrường hợp bạn   hỏi, vì trong trường hợp của bạn    đã có sự "tình nghi" rồi.

    2. Giả thiết thứ hai bạn đặt ra là chủ xe thông đồng với người bán (được hiểu là giao xe cho người khác đi bán), sau đó lại đi khai báo mất xe để được bồi thường: đây cũng là giả thiết mang tính lý thuyết nhiều hơn vì trên thực tế, như đã phân tích ở trên, không thể sang tên được nếu không có chứng từ mua bán. Chưa kể rằng, nếu "kế hoạch" của người bán xe và chủ xe bị cơ quan công an phát hiện, hai bên sẽ gặp rắc rối về pháp luật, tùy theo các chứng cứ cơ quan công an khai thác được, người chủ xe cũng như người bán xe phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với hành vi của mình.

    Trên đây là một vài trao đổi của luật sư, hy vọng được cùng làm rõ được những vấn đề của bạn.

    Trân trọng./.

  • Xem thêm     

    28/06/2014, 09:09:32 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    daolienluatsu
    daolienluatsu
    Top 75
    Female
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:11/11/2012
    Tổng số bài viết (836)
    Số điểm: 4505
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 416 lần
    Lawyer

    Chào bạn,

    Vấn đề bạn hỏi, luật sư Đào Thị Liên  - Công ty Luật Tiền Phong xin được tư vấn cho bạn như sau:

    Thứ nhất, thủ tục sang tên xe

    Thông tư số 06/2009/ TT- BCA (C11) quy định thủ tục sang tên đổi chủ cho phương tiện giao thông gồm những giấy tờ:

    Giấy khai đăng ký xe (chủ xe khai đúng mẫu);

    Giấy đăng ký xe;

    Chứng từ mua bán, cho tặng xe theo quy định (giấy tờ mua bán);

    Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định.

    Như vậy, bạn muốn sang tên cho mình thì phải có giấy tờ mua bán.

    Thứ hai, nếu xe là tài sản do trộm cắp mà có

    Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

    1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

    Điều 1, Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC Giải thích từ ngữ quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự như sau:

    Tài sản do người khác phạm tội mà có” là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua).

    Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội.

    Trong trường hợp của bạn:

    -  Chiếc xe là tài sản trộm cắp sẽ bị tịch thu và trả cho người mất

    -  Trường hợp nếu bạn mua bán chiếc xe nhưng không biết rõ chiếc xe có được do phạm tội thì giao dịch giữa bạn và người bán là giao dịch dân sự bị vô hiệu do trái quy định pháp luật, bạn có quyền yêu cầu người bán hoàn trả lại số tiền mua bán xe.

    -  Nếu khi thực hiện giao dịch mua bán, bạn biết rõ xe là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn quyết định mua thì bạn sẽ bị khởi tố về tội quy định tại Điều 250 nêu trên. (thời điểm trước khi thực hiện việc trộm cắp, bạn có hứa hẹn với người bán sẽ mua tài sản trộm cắp đó thì trường hợp này bạn có thể bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản tại Điều 138, bộ luật hình sư với vai trò là đồng phạm).

    Trên đây là các ý kiến tư vấn của luật sư, hi vọng làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Nếu bạn còn băn khoăn hoặc cần tư vấn thêm, vui lòng điện thoại về tổng đài tư vấn pháp luật của Luật Tiền Phong số 04-1088/4/3 để được trợ giúp.

    Thân chúc bạn sức khỏe.

    Trân trọng./.