Tư vấn luật đất đai

Chủ đề   RSS   
  • #596994 11/01/2023

    ddmna2

    Sơ sinh


    Tham gia:08/02/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Tư vấn luật đất đai

    Xin Luật sư cho hỏi

    - Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/1/2007 của Thủ tướng chính phủ khi tra cứu trên thư viện pháp luật thì để tình trạng là hết hiệu lực nhưng không tìm được văn bản thay thế, vậy hiện nay quy định là như thế nào?

    - Công văn số 1313/UBND-KT ngày 15/3/2017 của UBND TP HCM "về việc tạm dừng thực hiện bán tài sản trên đất, chuyển nhương quyền sửa dụng đất theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/1/2007 của Thủ tướng chính phủ" đã hết hiệu lực chưa và nếu hết thì được thay thế bằng văn bản nào?

    Cám ơn Luật sư.  

     
    617 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ddmna2 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (17/01/2023)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #597043   13/01/2023

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2145)
    Số điểm: 12195
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1556 lần
    Lawyer

    Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/1/2007 của Thủ tướng chính phủ đã hết hiệu lực và văn bản thay thế là Nghị định 167/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 về quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công.

    Công văn số 1313/UBND-KT ngày 15/3/2017 của UBND TP HCM "Về việc tạm dừng thực hiện bán tài sản trên đất, chuyển nhương quyền sửa dụng đất theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/1/2007 của Thủ tướng chính phủ" đã hết hiệu lực và hiện nay chưa tìm được văn bản thay thế.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; https://tplgiabinh.blogspot.com ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (17/01/2023)
  • #598791   20/02/2023

    Tư vấn luật đất đai

    Chào Luật sư, mong Luật sư giải đáp câu hỏi này của tôi :

    - Gia đinh tôi hiện đang ở trên mảnh đất của bà nội tôi để lại ( sổ đỏ đứng tên bà nội tôi). Tuy nhiên năm 2002, bà nội tôi mất, không để lại di chúc gì, đến năm 2006 bố tôi có họp gia đình về việc các anh  chị em từ chối nhận quyền thừa kế và sang tên cho gia đình tôi, có chữ ký của bố tôi, anh trai bố tôi và 2 bác đại diện anh em bên nội và bên ngoại ( giấy viết tay và không có công chứng của cơ quan địa phương ). Đến năm 2009 bố tôi mất, sau đó 2 bác làm chứng cũng mất nhưng gia đinh tôi chưa làm thử tục sang tên đất cho bố tôi, vẫn để tên bà nội tôi. Đến bây giờ bác anh trai bố tôi ( người đã ký giấy tay không nhận quyền thừa kế vào năm 2006) lại không muốn nhượng quyền thừa kế nữa và muốn phân chia đất thừa kế, còn những người anh chị em khác vẫn đồng ý không nhận thừa kế như ban đầu. Vậy trường hợp này Luật sư cho tôi hỏi, giấy viết tay ban đầu có còn hiệu lực không và theo pháp luật hiện hành gia đình tôi có thể làm giấy sang tên đất lại cho em trai tôi, tức cháu nội của bà được hay không?

    Xin cản ơn Luật sư !!!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn aa19930609@gmail.com vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (21/02/2023)
  • #599030   24/02/2023

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2145)
    Số điểm: 12195
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1556 lần
    Lawyer

    Bà của bạn mất mà không để lại di chúc, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 thì áp dụng quy định về thừa kế theo pháp luật. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những người thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất của bà bạn bao gồm bố, mẹ, vợ và những người con theo điều 650 và 651 Bộ luật Dân sự 2015, mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau.

    Gia đình bạn tất cả đã thống nhất mọi người đã ký và có người làm chứng. Việc lập văn bản như ở trên là chưa đúng với quy định của pháp luật. Do đó, việc thực hiện Văn bản khai nhận thừa kế trên có giá trị pháp lý thì gia đình nhà bạn phải thực hiện phân chia di sản thừa kế bằng văn bản theo quy định.

    Về mặt hình thức của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế: Căn cứ Điều 57, Điều 58 Luật Công chứng 2014 và Điều 18 Nghị định 29/2015/NĐ-CP thì văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế với đối tượng tài sản là bất động sản, tài sản gắn liền trên đất bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực.

    Hiện nay, có rất nhiều ý kiến về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tuy nhiên dựa theo cách hiểu thông dụng nhất thì thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được xem là một thỏa thuận của các thành viên trong gia đình và có giá trị pháp lý đầy đủ như một dạng của hợp đồng dân sự.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự như sau: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

    Đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hình thức của giao dịch dân sự như sau:

    1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

    Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

    2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

    Theo đó, trong trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được lập thành văn bản và ghi nhận các nội dung như thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình thì đây là một giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng văn bản. Trong trường hợp có thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế thì đây có thể được xem là một dạng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất như sau:

    1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    2. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Theo đó, trong trường hợp biên bản họp gia đình phân chia đất là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì cần phải đáp ứng điều kiện về hình thức là lập hợp đồng tặng cho tài sản phải có công chứng và phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Như vậy, trong trường hợp biên bản họp phân chia đất đai thì phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực thì biên bản họp đó mới có hiệu lực pháp luật.

    Do vậy, nếu nội dung cuộc họp là phân chia đất đai (không phải là phân chia di sản thừa kế), thì phải thực hiện thông qua xác lập các hợp đồng chuyển nhượng, mua bán, tặng cho đất tại văn phòng công chứng công hoặc tư tại quận/huyện nơi có mảnh đất đó.

    Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có giá trị pháp lý như thế nào? Có giá trị pháp lý không? Những người thừa kế có thể để thỏa thuận vấn đề gì?

    Căn cứ theo quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về họp mặt những người thừa kế như sau:

    Họp mặt những người thừa kế

    1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

    a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

    b) Cách thức phân chia di sản.

    2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản

    Theo đó, Văn bản phân chia đi sản thừa kế chỉ được tiến hành khi có mặt của tất cả những người thừa kế.

    Đồng thời, văn bản phân chia di sản thừa kế cần phải được công chứng tại các văn phòng, tổ chức hành nghề công chứng mới đầy đủ hiệu lực pháp luật.

    Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có người làm chứng, không được coi là đã được công chứng.

    Như vậy, để phân chia đất đai, phân chia di sản thừa kế có hiệu lực pháp luật và tránh xảy ra có tranh chấp không đáng có cần lưu ý những vấn đề như sau:

    - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cần phải đảm bảo có đầy đủ thành viên trong gia đình và nên có đầy đủ chữ ký của các thành viên trong biên bản họp

    - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cần phải có chữ ký của người làm chứng .

    - Sau khi lập xong Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, cần phải thực hiện công chứng ở một văn phòng công chứng uy tín để đảm bảo giá trị pháp lý.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; https://tplgiabinh.blogspot.com ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/02/2023)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

Website: https://myskincare.vn ; https://tplgiabinh.blogspot.com ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.