Khi nào cha, mẹ bán đất cần và không cần có sự đồng ý của con cái?

Chủ đề   RSS   
  • #535500 24/12/2019

    lanbkd
    Top 150
    Female
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/08/2017
    Tổng số bài viết (518)
    Số điểm: 8260
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 468 lần


    Khi nào cha, mẹ bán đất cần và không cần có sự đồng ý của con cái?

     

    Thực tiễn có nhiều trường hợp khi cha mẹ muốn chuyển nhượng đất đai cần có sự đồng ý của con cái thì giao dịch mua bán mới được coi là hợp pháp hay hợp đồng chuyển nhượng phải có cả chữ ký của con mới có hiệu lực.

    Vậy, hiện nay pháp luật quy định những trường hợp nào cha mẹ chuyển nhượng đất cần có sự đồng thuận của con cái?

    Một cách tổng quát, trong trường hợp cha mẹ chuyển nhượng đất, để xác định có phải xem xét đến ý kiến của con cái hay không chúng ta chia thành 02 trường hợp sau:

    >>>PHẢI CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA CON CÁI

    Đó là trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của hộ gia đình.

    Trong đó, khái niệm về hộ gia đình sử dụng đất được định nghĩa tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 như sau:

    Hộ gia đinh sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất”.

    Với quy định trên, chúng ta hiểu rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình là cấp cho những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân, đang sống chung. Theo đó, những người trong hộ gia đình có quyền sử dụng đất được xác định là đồng sở hữu mảnh đất từ thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.

    Mặt khác, vấn đề về đồng sở hữu quyền sử dụng đất cũng được ghi nhận tại Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013, ngoài ra được hướng dẫn bởi khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT như sau:

    Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.

     

    >>>KHÔNG CẦN SỰ ĐỒNG Ý CỦA CON CÁI

    Gồm 02 trường hợp sau:

    - TH1: Quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả hai vợ chồng

    Tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận về cách xác định tài sản chung của vợ chồng như sau:

    “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

    Tiếp theo, căn cứ Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đất với tài sản chung như sau:

    “Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

    Theo đó, khi vợ chồng cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản thì khi xác lập các giao dịch dân sự thì phải có sự đồng ý, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của cả hai vợ chồng, trường hợp vợ hoặc chồng không thể cùng xác lập giao dịch dân sự đó thì có thể ủy quyền cho bên còn lại thực hiện giao dịch dân sự. Xong, trong trường hợp này đương nhiên không cần xem xét ý chí của con cái.

    Lưu ý: Đối với trường hợp tài chung của vợ chồng mà chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng nhưng khi xem xét nguồn gốc có được tài sản thì do vợ, chồng cùng tham gia giao dịch dân sự, cùng lấy tài sản chung của vợ chồng để có được tài sản thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng).

    - TH2: Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng

    Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thì đương nhiên quyền định đoạt hoàn toàn thuộc về riêng người vợ/chồng đó. Do vậy, khi thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản riêng thì chỉ cần có sự đồng ý và chữ ký của một bên vợ chồng mà không cần sự đồng ý của con cái.

     

     
    35869 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn lanbkd vì bài viết hữu ích
    admin (26/12/2019) phanquan01 (24/12/2019)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #535504   24/12/2019

    phanquan01
    phanquan01

    Male
    Sơ sinh

    Bắc Ninh, Việt Nam
    Tham gia:19/02/2019
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 3 lần


    Trước tiên cám ơn bài viết của bác.
    Em có câu hỏi là:
    ví dụ Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hộ gia đình ông A và có con là B. 
    sau đó B lấy vợ là C ( đã nhập hộ khẩu), sau nhiều năm ông A mất, thì bây giờ ông B muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì liệu có cần chữ ký của bà C. Trong hai trường hợp:

    TH1: sau khi ông A mất thì GCN-QSDĐ là hộ gia đình

    TH2: sau khi ông A mất thì GCN- QSDĐ là cá nhân ông B

    Liệu bà B có quyền nào không khi ông B muốn chuyển nhượng đất cho người khác.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phanquan01 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/12/2019)
  • #535563   25/12/2019

    zichzach79
    zichzach79
    Top 500
    Male
    Mầm

    Khánh Hoà, Việt Nam
    Tham gia:05/09/2018
    Tổng số bài viết (136)
    Số điểm: 800
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 88 lần


    Cho hỏi trường hợp bán nhà thì sao? khi căn nhà đó là tài sản của người mẹ hoặc cha nhưng hộ khẩu của nhà đó thì có thêm các con nữa và ở chung, có đóng góp công và tiền khi sinh sống trong nhà thì khi bán căn nhà đó có cần hỏi hoặc báo các người con khi bán nhà?

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn zichzach79 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (25/12/2019) hienducv (22/09/2020)