Đồng nghiệp "bùng nợ" qua tin nhắn, có kiện đòi được không?

Chủ đề   RSS   
  • #610108 30/03/2024

    motchutmoingay24
    Top 200
    Lớp 5

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:16/03/2024
    Tổng số bài viết (457)
    Số điểm: 6950
    Cảm ơn: 16
    Được cảm ơn 145 lần


    Đồng nghiệp "bùng nợ" qua tin nhắn, có kiện đòi được không?

    Đồng nghiệp cần tiền gấp để sửa nhà và hỏi vay tiền, hứa hẹn sẽ trả sớm vào ngày lãnh lương. Do tin tưởng đồng nghiệp và cũng chủ quan vì nghĩ rằng đồng nghiệp sẽ trả cho mình vì biết mức thu nhập của đồng nghiệp cũng khá cao và ổn định. Tuy nhiên, người này đã “bùng nợ” và nghỉ việc, không trả lời tin nhắn, điện thoại, người đồng nghiệp cho rằng việc vay tiền chỉ thể hiện qua tin nhắn điện thoại với nhau không đủ chứng cứ nói bạn có vay tiền.

    Vậy liệu có thể khởi kiện đòi tiền với bằng chứng là tin nhắn được không?

    (1) Có khởi kiện đòi tiền cho vay được không?

    Cho vay tiền là một giao dịch dân sự thông thường ở xã hội, theo Điều 463 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:

    “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

    Theo đó, người vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên cho vay, nếu không thực hiện nghĩa vụ thì người vay được xem là vi phạm hợp đồng

    Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong đó có tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

    Theo nguyên tắc tố tụng, khi có tranh chấp hợp đồng vay tài sản, giải quyết trên cơ sở thỏa thuận, thương lượng giải quyết vấn đề.

    Nếu không giải quyết được bạn được quyền khởi kiện nộp đơn tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, các bên vẫn có quyền tự thỏa thuận về Tòa án nơi nguyên đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết.

    Do đó, hoàn toàn có thể khởi kiện người đồng nghiệp đó với lí do vi phạm hợp đồng cho vay.

    (2) Tin nhắn điện thoại có thể làm bằng chứng khởi kiện được không?

    Theo khoản 1 Điều 119 Bộ Luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được thể hiện qua các hình thức sau:

    - Lời nói

    - Văn bản

    - Hành vi

    - Phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật.

    Hoặc tại khoản 1 Điều 94 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 có quy định “Tài liệu nghe được, đọc được, nhìn được, dữ liệu điện tử” cũng là một nguồn chứng cứ.

    Bên cạnh đó, nếu cho vay dưới hình thức chuyển khoản thì biên lai điện tử về số tiền đã chuyển cũng có giá trị về bằng chứng, chứng cứ. Bạn nên ghi nội dung chuyển khoản là : “Cho … vay số tiền … đồng vào ngày…” để chứng cứ được mạnh mẽ hơn.

    Như vậy, việc mượn tiền qua tin nhắn được xem là một chứng cứ chứng minh là có giao dịch vay tiền giữa hai người, có thể dựa vào bằng chứng này để khởi kiện hoặc tố giác.

    (3) “Bùng nợ” có dấu hiệu của tội phạm hình sự

    Theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ Luật Hình sự 2015, các dấu hiệu phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” bị xử lí như sau:

    “Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

    - Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả".

    Hình phạt tù của tội danh “Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” có thể lên đến 20 năm khi tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu.

    Nếu việc “bùng nợ” có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì có thể  nộp đơn tố giác tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố để tố giác hành vi vi phạm pháp luật của người vay tiền.

    (4) Kết luận

    Việc cho vay tiền khá nhạy cảm, không cho vay thì bạn giận, cho vay thì có nguy cơ vừa mất tiền vừa mất bạn.

    Do đó, trước khi có một người nào vay tiền, hãy thực hiện các việc để lại bằng chứng đã diễn ra sự kiện vay tiền giữa bạn và người đó để có căn cứ cho sự việc vay mượn này.

    Ngoài ra, chỉ nên cho những người bạn thật sự tin tưởng, người thân thiết và bạn nghĩ họ có khả năng trả cho mình để tránh vừa mất tiền, vừa mất luôn cả tình bạn bạn nhé!

     
    135 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận