Quy định về “Điều khoản Hardship” – Không phải doanh nghiệp nào cũng biết

Chủ đề   RSS   
  • #454815 28/05/2017

    Quy định về “Điều khoản Hardship” – Không phải doanh nghiệp nào cũng biết

    Trong quá trình kí kết các hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc tế, việc xảy ra các rủi ro (rủi ro từ thiên nhiên, con người, xã hội …) là yếu tố khó có thể tranh khỏi. Các yếu tố này làm cho hoàn cảnh thực hiện hợp đồng bị thay đổi một cách căn bản, các doanh nghiệp trở nên cực kì khó khăn (có thể lâm vào tình trạng phá sản) nếu tiếp tục việc thực hiện hợp đồng. Trong những trường hợp như thế, việc các bên trong hợp đồng viện dẫn “Điều khoản Hardship” để giải quyết khó khăn là điều rất cần thiết.

    Điều khoản hardship được hiểu là điều khoản về những trường hợp mà khi xảy ra hay làm thay đổi một cách căn bản về tính cân bằng của hợp đồng (thường liên quan đến lợi ích) đã được các bên thỏa thuận trước đó trong hợp đồng. Ví dụ: đồng tiền được thỏa thuận dùng thanh toán bị mất giá, giá cả hàng hóa mua bán tăng hoặc giảm một cách đáng kể,..Khi những trường hợp này xảy ra bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấp dứt hợp đồng nếu bên còn lại không chấp nhận đàm phán lại.

    Đối với pháp luật Việt Nam, Điều khoản Hardship còn được gọi là “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”. Tại Điều 420 BLDS 2015 vừa mới quy định riêng về điều khoản này. Cho nên, việc áp dụng điều khoản này đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn “khá mới mẻ”, trong khi trong thực tiễn thương mại thế giới không còn là vấn đề “xa lạ”. Đây là một yếu thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay.

    Điều kiện áp dụng điều khoản Hardship

    Theo định nghĩa tại Điều 6.2.2 của Bộ nguyên tắc về hợp đồng MBHHQT của UNIDRPOIT 2004 (PICC) thì:

    Hoàn cảnh hardship được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống, và: a) các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; b) bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; c) các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi;và d) rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu.”

    Còn theo quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS Việt Nam 2015 thì:

    Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”

    Nhìn chung các quy định về hoàn cảnh thay đổi và điều kiện để áp dụng hoàn cảnh thay đổi trong PICC  hay BLDS Việt Nam 2015 đều có nét tương đồng, nội dung gần như tương tự nhau. Theo như các quy định này, một hoàn cảnh được gọi là khó khăn, nếu nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của hợp đồng, hoặc làm cho phí thực hiện tăng quá cao, hoặc giá trị nhận được do thực hiện nghĩa vụ giảm quá thấp (sự tăng lên hoặc giảm xuống 50% hoặc hơn tổng giá trị của hợp đồng sẽ được xem là thay đổi cơ bản). Và thỏa mãn 4 điều kiện cho việc áp dụng điều khoản Hardship như:

    - Thứ nhất, các trường hợp để viện dẫn hoàn cảnh khó khăn phải xảy ra hoặc được biết sau khi giao kết hợp đồng

    Các sự kiện gây ra khó khăn đã xảy ra, hoặc chỉ được bên bị khó khăn biết đến sau khi đã giao kết hợp đồng, nếu các bên đã biết trước các sự kiện đó vào thời điểm giao kết hợp đồng thì không bên nào được quyền viện dẫn điều khoản hardship vào hợp đồng.

    - Thứ hai, bên bị bất lợi đã không thể tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó  khi giao kết hợp đồng

    Nói cách khác, sự kiện xảy ra phải mang tính khách quan, chứ không phải diễn ra không phải do ý muốn chủ quan của con người. Nếu hoàn cảnh khó khăn xảy ra sau khi kí kết hợp đồng, mà bên bị bất lợi biết hoặc phải biết trước những sự kiện bất lợi này (những sự kiện có thể được dự đoán trước do các biểu hiện trên thực tế: chiến tranh sắp nổ ra, khủng hoảng chính trị đang tăng cao..) vào thời điểm giao kết hợp đồng thì bên bị bất lợi khó khăn vẫn không thể viện dẫn điều khoản Hardship này để được quyền xin điều chỉnh hợp đồng.

    Ví dụ: A đồng ý cung cấp cho B dầu thô từ nước X với giá cố định trong vòng 5 năm, mặc dù đang có các biến động về chính sách chính trị tại khu vực. Hai năm sau khi giao kết hợp đồng, một cuộc chiến tranh nổ ra giữa các nước láng giềng. Cuộc chiến tranh đưa đến cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới và giá dầu tăng vọt. A không có quyền viện dẫn hoàn cảnh bất lợi, bởi vì A phải biết hay buộc phải biết trước việc gia tăng giá dầu thô.

    Đôi khi sự thay đổi hoàn cảnh diễn ra dần dần này có thể cấu thành một trường hợp về hoàn cảnh khó khăn. Nếu sự thay đổi này bắt đầu trước khi hợp đồng giao kết, hoàn cảnh khó khăn sẽ không phát sinh trừ khi tốc độ của sự thay đổi tăng vọt trong suốt thời hạn của hợp đồng sau khi giao kết.

    - Thứ ba, các sự kiện phát sinh ngoài tầm kiểm soát của bên bị khó khăn

    Theo mục (c) của Điều 6.2.2 Bộ nguyên tắc về HĐTMQT của UNIDROIT 2004 hoàn cảnh khó khăn chỉ có thể phát sinh nếu các sự kiện gây ra hoàn cảnh khó khăn nằm ngoài tầm kiểm soát của các bên. Điều này có nghĩa là các bên không thể dự báo trước được khó khăn xảy ra, sự kiện khách quan lúc này vượt ngoài khả năng lường trước hay tính đến một cách hợp lí của các bên trong hợp đồng.

    Ví dụ: Công ty A giao kết hợp đồng mua bán xe hơi với Công ty B tại nước B. Hợp đồng quy định thời hạn 1 năm, với giá nhất định được kí kết trong hợp đồng. Nửa năm sau khi giao kết hợp đồng, Chính phủ nước B đưa ra chính sách quản lí khí thải xe theo tiêu chuẩn mới nhằm bảo vệ môi trường, chính sách đã buộc Công ty B phải điều chỉnh lại mức giá tăng gấp 2 lần so với mức giá đã được thỏa ban đầu. Trường hợp này, Công ty B có thể viện dẫn điều khoản về hoàn cảnh khó khăn cho để cùng Công ty A thỏa thuận điều chỉnh lại mức giá cho hợp lý trong hợp đồng. Đây được xem là một trường hợp về hoàn cảnh khó khăn, bởi vì các bên không thể đoán trước được sự thay đổi chính sách về quản lí khí thải của Chính phủ nước B trong thời gian sau khi kí hợp đồng.

    - Thứ tư, các rủi ro về các sự kiện hoàn cảnh thay đổi này không nằm trong phạm vi mà bên khó khăn phải gánh chịu

    “Không nằm trong phạm vi mà bên khó khăn phải gánh chịu” tức là nó nằm ngoài sự kiểm soát và sự lường trước của các bên như đã được nêu trên. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào sự kiện hoàn cảnh thay đổi không nằm trong phạm vi mà các bên khó khăn phải gánh chịu cũng được viện dẫn điều khoản hardship để điều chỉnh hợp đồng. Theo mục (d) của Điều 6.2.2 Bộ nguyên tắc về HĐTMQT của UNIDROIT 2004 nếu bên bị khó khăn đã chấp nhận một cách rõ ràng rủi ro về sự thay đổi hoàn cảnh thì sẽ không có “khó khăn trở ngại”, bên này sẽ không được viện dẫn điều khoản hardship. Những điều này có thể được suy ra từ tính chất của hợp đồng mà các bên giao kết, một bên tham gia vào một thương vụ có tính đầu cơ xem như chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định.

    Ví dụ: A _ Một công ty bảo hiểm chuyên bảo hiểm các rủi ro về tàu bè, yêu cầu một chí phí bảo hiểm phụ trợ đối với những khách hàng có những hợp đồng liên quan đến các rủi ro về chiến tranh và các bạo động trong nước, để đáp ứng các rủi ro lớn hơn đáng kể xảy ra sau khi các cuộc chiến tranh và bạo động trong nước nổ ra đồng thời ba nước trong cùng một khu vực. A không có quyền đòi sửa đổi hợp đồng và viện dẫn khó khăn khi chiến tranh xảy ra, do khoản tiền yêu cầu nộp thêm trong phí bảo hiểm về chiến tranh và bạo động trong nước đã ngầm chỉ rõ ràng công ty bảo hiểm chấp nhận rủi ro này dù cho cả ba nước bị ảnh hưởng chiến tranh cùng lúc.

    - Quy định về hạn chế áp dụng

    Theo quy định tại Điều 6.2.1 của PICC về “Tuân thủ hợp đồng” thì: “Các bên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình ngay cả khi việc thực hiện hợp đồng trở nên tốn kém hơn, trừ các quy định liên quan dưới đây về hardship”.

    Điều này cho thấy, việc áp dụng hardship để cho phép điều chỉnh lại hợp đồng là một ngoại lệ của nguyên tắc “pacta sunt servanda” (nguyên tắc tận tâm, thiện chí và thực hiện cam kết quốc tế)  và phải được áp dụng rất hạn chế. Một khi hợp đồng đã được thiết lập một cách hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi hoặc hủy bỏ.

    Việc đưa ra quy định như vậy là nhằm hướng các bên theo một quy trình thống nhất, buộc các bên phải tuẩn thủ theo các quy định chung về tính ràng buộc của hợp đồng. Tất cả các bên khi tham gia ký kết HĐTMQT đều phải tuyệt đổi tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Không một bên nào trong hợp đồng có quyền hủy bỏ nguyên tắc cơ bản trên cũng như bất kì hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, chỉ trừ ngoại lệ các quy định về điều khoản Hardship, điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi gây ra sự khó khăn đặc biệt cho một bên.

    Theo đó, mỗi bên trong hợp đồng phải hoàn thành các nghĩa vụ của mình và các chi phí liên quan cho việc thực hiện hợp đồng đó. Nói cách khác, thậm chí một bên phải chịu thua lỗ nặng nề thay vì lợi nhuận như mong đợi, hay khi việc thực hiện trở nên vô nghĩa đối với bên đó, các điều kiện của hợp đồng vẫn phải được tôn trọng.

    (Còn tiếp)

     
    17920 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #455065   29/05/2017

    Hệ quả pháp lí khi các doanh nghiệp sử dụng “Điều khoản hardship” trong kí kết HĐTMQT

    "Điều khoản hardship" được hiểu là điều khoản về những trường hợp mà khi xảy ra hay làm thay đổi một cách căn bản về tính cân bằng của hợp đồng (thường liên quan đến lợi ích) đã được các bên thỏa thuận trước đó trong hợp đồng. Ví dụ: đồng tiền được thỏa thuận dùng thanh toán bị mất giá, giá cả hàng hóa mua bán tăng hoặc giảm một cách đáng kể,..Khi những trường hợp này xảy ra bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấp dứt hợp đồng nếu bên còn lại không chấp nhận đàm phán lại.

    Theo đó, hệ quả pháp lý của việc các doanh nghiệp sử dụng điều khoản hardship khi gặp những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt được thể hiện cụ thể như sau:

    Thứ nhất, bên bị bất lợi được quyền yêu cầu thương thảo lại hợp đồng trong một khoảng thời gian hợp lý

    Theo quy định trong luật hợp đồng của nhiều nước, các sự kiện bất khả kháng thường đưa đến hệ quả là làm cho hợp đồng chấm dứt hiệu lực và bên không thực hiện hợp đồng thường được miễn trừ trách nhiệm dân sự trước bên kia. Khác với việc xử lý hậu quả của việc vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng này, các giải pháp để điều chỉnh tình trạng mất cân đối lợi ích giữa các bên trong hợp đồng do thay đổi hoàn cảnh thường cho phép các bên thương thảo lại hợp đồng. Điều này được quy định tại Khoản 1 Điều 6.2.3 của Bộ Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT 2004 (PICC) về “Hệ quả” như sau: “Trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn cứ”.

    Hay tại khoản 2 Điều 420 BLDS Việt Nam 2015 quy định: “Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.”

    Ví dụ: Hợp đồng mua bán thép giữa công ty Pháp (Scafom International BV)- người bán và công ty Hà Lan (Lorraine Tubes S.A.S)- người mua. Tranh chấp phát sinh khi giá thép trên thị trường tăng 70% khiến cho hai bên bất đồng về việc điều chỉnh lại giá trong hợp đồng. Tranh chấp được giải quyết tại tòa phá án (Cour de Cassation) của Bỉ, số C.07.0289.N, ngày 19.06.2009. Hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước viên 1980 (CISG) và PICC.

    Vì hợp đồng không bao gồm điều khoản điều chỉnh giá cả. Người bán viện dẫn gặp khó khăn do giá thép tăng và yêu cầu đàm phán lại giá hợp đồng. Tuy nhiên, người mua không chấp nhận và muốn người bán giao hàng theo giá hợp đồng vì trong hợp đồng không có điều khoản về điều chỉnh giá.

    Toà án đã quyết định áp dụng quy định của PICC để bổ sung cho Công ước Viên. Theo quy định của PICC này, một bên có thể yêu cầu bên kia đàm phán lại nếu có những sự kiện xảy ra làm thay đổi một cách cơ bản sự cân bằng của hợp đồng (trường hợp như vậy được gọi là hardship – hoàn cảnh khó khăn). Hơn nữa, nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh quốc tế cũng yêu cầu các bên phải hợp tác để cùng khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng.

    Với những lập luận trên, toà phá án Bỉ cho rằng người bán có quyền yêu cầu đàm phán lại giá cả và bác bỏ khiếu kiện của người mua.

    Theo ví dụ trên thì khi xảy ra hoàn cảnh khó khăn bên bất lợi có thể yêu cầu thương lượng lại hợp đồng nhưng việc thương lượng đó phải trong một thời gian hợp lý. Tức là, yêu cầu về các cuộc thương lượng phải được thực hiện ngay khi có thể được, sau thời điểm hoàn cảnh khó khăn xảy ra. Thời điểm chính xác cho việc yêu cầu thương lượng lại phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp, ví dụ nó có thể kéo dài hơn khi sự thay đổi hoàn cảnh xảy ra từ từ.

    Bên bị khó khăn không mất quyền của họ trong việc yêu cầu các cuộc thương lượng lại nếu họ không yêu cầu thương lượng lại ngay. Tuy nhiên, sự trì hoãn trong việc yêu cầu thương lượng lại sẽ gây khó khăn cho bên bị bất lợi trong việc chứng minh hoàn cảnh khó khăn có thực sự xảy ra hay không, và nếu có thì hậu quả của nó đối với hợp đồng là gì.

    Thứ hai, thương thảo lại không thành công và hậu quả pháp lý của nó

    Một trong những nội dung rất cần được dự liệu là hậu quả pháp lý khi các bên
    không tự nguyện thương thảo, hoặc việc thương thảo lại nội dung của hợp đồng không thành công. Đây là vấn đề khó và gây nhiều tranh cãi. Thực tiễn thương mại và các tổ chức tham gia soạn thảo PICC đã đề xuất nhiều phương án để lựa chọn cho qui định này trong PICC, như Điều khoản do Phòng Thương mại Paris đề xuất là: Nếu các Bên không thoả thuận được với nhau về việc sửa đổi hợp đồng trong thời hạn 90 ngày sau khi có yêu cầu sửa đổi hợp đồng, thì hợp đồng tiếp tục có hiệu lực theo quy định ban đầu.

    Hoặc Điều khoản do Phòng Thương mại Quốc tế đề xuất: Nếu các Bên không thể thoả thuận được với nhau về việc sửa đổi hợp đồng trong thời hạn 90 ngày sau khi có yêu cầu sửa đổi hợp đồng thì một trong các Bên có quyền đưa vụ việc ra Uỷ ban thường trực điều tiết quan hệ hợp đồng của Phòng Thương mại Quốc tế giải quyết, để Uỷ ban này chỉ định một bên thứ ba (hoặc một hội đồng gồm ba thành viên) theo quy định của Quy chế điều tiết quan hệ hợp đồng của Phòng Thương mại Quốc tế. Vì quyền lợi của các Bên trong hợp đồng, bên thứ ba xác định xem các điều kiện sửa đổi hợp đồng quy định tại khoản 1 đã hội đủ chưa. Nếu các điều kiện này đã hội đủ thì bên thứ ba sẽ sửa đổi hợp đồng một cách công bằng nhằm đảm bảo không một Bên nào bị thiệt hại một cách thái quá. Các quyết định của bên thứ ba ràng buộc các Bên trong hợp đồng và được nhập vào hợp đồng.

    Tuy vậy, các giải pháp này đều không thành công. Trên thực tế, PICC và PECL đều chọn giải pháp là, tùy trường hợp, một cách hợp lý và có căn cứ, tòa án hoặc cho phép chấm dứt hợp đồng, hoặc buộc các bên phải đàm phán lại hợp đồng trên cơ sở của nguyên tắc trung thực, thiện chí. ( Xem khoản 3, khoản 4 Điều 6.2.3 của PICC; khoản 3 Điều 6: 111 của Bộ Nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu (PECL)).

    Cụ thể tại khoản 3 Điều 6: 111 PECL quy định về xử lí hậu quả của việc áp dụng quy định về sự thay đổi hoàn cảnh như sau:

    “Nếu các bên không đạt được thoả thuận trong khoảng thời gian hợp lý, toà án có thể:

    (a) chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều kiện do toà án xác định;hoặc

    (b) sửa đổi hợp đồng nhằm phân chia thiệt hại và lợi ích phát sinh do hoàn cảnh thay đổi cho các bên theo một cách thức công bằng và bình đẳng.

    Trong bất kỳ trường hợp nào kể trên, toà án có thể buộc bên từ chối thỏa thuận hoặc vi phạm thoả thuận trái với nguyên tắc trung thực và thiện chí phải bồi thường thiệt hại mà bên kia phải gánh chịu.”

    Đối với quy định của BLDS Việt Nam 2015, tại khoản 3 Điều 420 có quy định như sau:

    “ Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lí, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

    a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

    b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

    Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.”

    Qua hai quy định trên có thể thấy một điểm khác biệt nhỏ về vấn đề xử lí hệ quả của việc sử dụng hardship trong BLDS Việt Nam 2015 với quy định PECL. Đó là việc toà án buộc bên từ chối thỏa thuận phải “ bồi thường thiệt hại” cho bên còn lại. Vấn đề này được PECL tại điểm b, khoản 3 Điều 6: 111; còn BLDS Việt Nam 2015 thì không quy định.

    Lí giải cho vấn đề này, theo quan điểm của Ts. Đỗ Văn Đại thì : “Tuỳ theo từng trường hợp, toà án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại”. Việc xử lý người không thiện chí, trung thực là cần thiết. Tuy nhiên, quy định như vậy là không cần thiết ở đây vì hướng giải quyết này đã tồn tại trong khuôn khổ chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, điều đó có nghĩa là việc vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực thông qua từ chối đàm phán, phá vỡ đàm phán đã được quy đinh ở chỗ khác. Cụ thể, “trách nhiệm dân sự của một bên từ chối thương lượng hay chấm dứt thương lượng một cách không thiện chí có thể được triển khai thông qua việc áp dụng các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng”.

    Theo trên, quy định về thay đổi hoàn cảnh có dự liệu trường hợp đàm phán không thành công và không có quy định về bồi thường trong nội dung quy phạm về thay đổi hoàn cảnh. Cho nên, việc lược bỏ quy định trên ra khỏi quy định về hoàn cảnh thay đổi của BLDS Việt Nam 2015 là hoàn toàn phù hợp và nội dung điều chỉnh vẫn không thay đổi so với pháp luật quốc tế .

    Tóm lại, mặc dù quy định trong các Bộ Nguyên tắc PICC,  PECL hay trong BLDS Việt Nam 2015 thì “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” được quy định tương đổi đồng nhất về khái niệm, phạm vi áp dụng, cũng như xử lí hệ quả của nó. Điều khoản này đã được cân nhắc thận trọng và tiếp nhận ở những mức độ khác nhau trong pháp luật của nhiều nước, trong các bộ qui tắc thương mại quốc tế, cũng như thực tiễn tài phán quốc tế theo phương thức trọng tài. Tuy vậy, hầu hết các nước và các bộ qui tắc về hợp đồng quốc tế có sự chấp nhận áp dụng điều khoản này đều đề cập đến ba nội dung cơ bản là:

    Thứ nhất, các quốc gia được đề cập chấp nhận một cách thận trọng và không rời xa hoặc phủ nhận các nguyên tắc pacta sunt servanda (nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế) và nguyên tắc thiện chí và ngay tình, mỗi bên “không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.

    Thứ hai, nền tảng của việc áp dụng điều khoản này là sự thay đổi lớn của hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của các bên, và sự xuất hiện của nó làm ảnh hưởng tới sự cân bằng lợi ích cơ bản của hợp đồng; Hơn nữa, những trường hợp rơi vào khả năng áp dụng điều khoản hardship phải được các bên thỏa thuận trước và ghi vào hợp đồng thì khi trường hợp đó xảy ra bên bị thiệt hại mới có thể viện dẫn điều khoản này để yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, các bên cần thỏa thuận chi tiết những nội dung có liên quan trong hợp đồng.

    Thứ ba, mục đích của việc các bên viện dẫn điều khoản hardship vào hợp đồng là chủ yếu nhằm tái cấu trúc lại sự cân bằng lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, đảm bảo cho hợp đồng được tiếp tục thực thi bằng cách để các bên tự thương thảo lại nội dung hợp đồng và cơ quan tài phán chỉ can thiệp khi các bên có sự vi phạm nguyên tắc thiện chí, hợp tác.

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn KieuNga1109 vì bài viết hữu ích
    Hoangngoc2209 (13/05/2018) uyenaqua83 (16/12/2018) quynhtrang68 (17/08/2021)