Hành vi không trả tiền đúng hạn khi mua hàng trả góp

Chủ đề   RSS   
  • #504258 09/10/2018

    linhtrang123456
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2017
    Tổng số bài viết (1988)
    Số điểm: 14314
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 317 lần


    Hành vi không trả tiền đúng hạn khi mua hàng trả góp

    Anh mình có mua 1 cái điện thoại trả góp. Đến nay hơn 1 năm rồi, nhưng lúc mua anh mình có khả năng trả nhưng khi mua xong có một số vấn đề (bị bệnh) nên không có khả năng trả. Vậy có bị truy tố hình sự và bị ở tù hay không ạ? Giá trị của điện thoại là trên 7 triệu đồng.

    Việc mua điện thoại từ của hàng được xem như là giữa anh bạn và bên bán điện thoại đã xác lập một hợp đồng mua bán tài sản, được quy định trong Bộ luật dân sự 2015 như sau:

    "Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

    Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

    Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan."

    Do đó, phải có nghĩa vụ trả số tiền anh đã mua điện thoại cho bên bán theo quy định:

    "Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền

    1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

    2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.

    3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này."

    Hợp đồng giữa anh và bên bán giao kết đã có quy định về trả góp số tiền mua điện thoại, thời hạn trả. Trả góp là hình thức mua hàng mà ở đó người mua không cần phải trả toàn bộ số tiền trong một lần trả, mà có thể thanh toán nó theo kỳ hạn (6 tháng, 9 tháng, 12 tháng…) với nhiều mức lãi suất khác nhau (một số công ty còn hỗ trợ trả góp không tính lãi suất), tạo điều kiện cho người mua mua được những hàng hóa có giá trị cao nhưng không đủ khả năng tài chính. Anh đã cam kết trả góp, nhưng anh đã không thực hiện việc trả tiền cho bên bán (không kể vì lý do gì), vì thế anh đã vi phạm hợp đồng, bên bán có quyền kiện bạn ra Tòa án để thực hiện việc thu hồi số tiền mà anh chậm trả.

    Theo như thông tin anh cung cấp, thì anh bạn có một số vấn đề nên mới không thể trả nợ, trong trường hợp này nếu có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh nơi anh nhập viện thì anh sẽ được xem là đã gặp trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng đến nỗi không thể trả nợ, chậm trả nợ thì sẽ chứng minh được anh không có hành vi trốn nợ, cố tình không trả nợ, như vậy sẽ không cấu thành nên hành vi lừa dối, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bên bán theo quy định tại Khoản 35 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

    Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    g) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

    4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

    Do vậy, anh bạn vẫn phải thực hiện thanh toán cho bên bán điện thoại theo thời hạn đã quy định, việc không thanh toán tiền cho bên bán điện thoại đúng thời hạn đã vi phạm quy định về hợp đồng mua bán và Bộ luật dân sự 2015, bên bán điện thoại có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu trả tiền cho bên bán điện thoại, khi khởi kiện ra Tòa án thì đây là vụ án dân sự nên sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trừ trường hợp bạn bỏ trốn, lừa dối không thanh toán), Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp như thanh lý tài sản của bạn để thu hồi nợ cho bên bán hàng. Anh cần có sự hợp tác với bên bán hàng và Tòa án nếu bị kiện ra Tòa án. Anh cũng có thể trả khoản nợ ngay cho bên bán điện thoại để tránh bị kiện ra Tòa án.

     
    2658 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận