Thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh có cần phải công chứng?

Chủ đề   RSS   
  • #577187 21/11/2021

    mibietchi
    Top 500
    Chồi

    Vietnam --> Hà Tĩnh
    Tham gia:25/05/2014
    Tổng số bài viết (148)
    Số điểm: 1115
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 62 lần


    Thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh có cần phải công chứng?

    Theo quy định tại điều 36 Luật hôn nhân và gia đình 2014 "Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản"

    Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì phải lập thỏa thuận bằng văn bản, nhưng em muốn hỏi là thỏa thuận này có cần phải công chứng không hay chỉ cần hai vợ chồng tự xác lập với nhau là được?

     
    268 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn mibietchi vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (22/11/2021)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #577205   22/11/2021

    Thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh có cần phải công chứng?

    Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

     

    Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng phải do vợ chồng thỏa thuận.Vợ chồng có thể cùng xác lập giao dịch với bên thứ ba liên quan đến tài sản chung hoặc thỏa thuận cho một người được toàn quyền định đoạt đối với tài sản chung. Vậy nên, vợ chồng có thể thỏa thuận để một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh và người này có quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan tới khối tài sản này.

    Tuy nhiên, để đảm bảo khi xảy ra tranh chấp, thì thỏa thuận này cần được lập thành văn bản như bạn đã trích dẫn tại Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và có xác nhận của vợ, chồng. Nội dung thỏa thuận cần thể hiện chi tiết đối tượng gồm loại tài sản, số lượng tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng,...Khi sử dụng tài sản chung của vợ chồng vào kinh doanh thì nguồn lợi nhuận thu được sẽ được tính là tài sản chung, cả hai vợ chồng đều có quyền định đoạt, trừ khi có thỏa thuận khác.

    Hiện tại, không có quy định thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh cần phải công chứng. Nhưng để đảm bảo quyền lợi cho bên còn lại khi đồng ý đưa tài chung, thì thỏa thuận đó nên được công chứng để tránh những phát sinh khi xảy ra khi có tranh chấp.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn daisy1009 vì bài viết hữu ích
    mibietchi (22/11/2021) ThanhLongLS (23/11/2021)