Một số vướng mắc tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo

Chủ đề   RSS   
  • #570899 29/04/2021

    hiesutran159
    Top 100
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/10/2020
    Tổng số bài viết (692)
    Số điểm: 10717
    Cảm ơn: 29
    Được cảm ơn 740 lần


    Một số vướng mắc tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo

    Thi hành án treo - Minh họa

    Thi hành án treo - Minh họa

    Án treo là một biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện, chế định này thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Với phương châm giáo dục kết hợp với khoan hồng, án treo không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mà tạo điều kiện cho họ được hòa nhập cùng cộng đồng, họ vẫn được làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

    Theo quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 quy định khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Để áp dụng thống nhất chế định án treo, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo. Theo đó, ngoài điều kiện người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm thì người được hưởng án treo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ (có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS).

    Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS. Người phạm tội phải có nhân thân tốt, có nơi cú trú rõ ràng để các cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục thì mới có thể được xem xét để áp dụng án treo.

    Nghị quyết số 02/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là hướng dẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng án treo trên thực tế, giúp bảo đảm mục đích của hình phạt, bảo đảm pháp chế, bảo đảm sự công bằng công lý …Tuy nhiên, qua thời gian và thực tiễn áp dụng, còn tồn tại một số vướng mắc cần được sửa nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, cụ thể:

    1. Về điều kiện cho hưởng án treo

    Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện: Bị xử phạt tù không quá 03 năm; có nhân thân tốt. Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

    “Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo”.

    Như vậy, người được coi là không có án tích, được xóa án tích, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật có thể xem xét được cho hưởng án treo nếu tính từ khi họ được coi là không có án tích, đã xóa án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật đến khi phạm tội mới, là hơn 6 tháng.

    Theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì “Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý phạt cảnh cáo hoặc 1 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”.

    Theo quy định này thì người bị xử phạt cảnh cáo vì vi phạm hành chính được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và có thể được xem xét cho hưởng án treo sau 12 tháng, kể từ khi họ được coi là chưa bị xử lý hành chính (6 tháng + 6 tháng).

    Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác và trường hợp đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì thời hạn được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính phải là 1 năm, tức là người được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính phải bảo đảm hơn 18 tháng, kể từ khi được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đến khi phạm tội mới (12 tháng + 6 tháng). Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 BLHS thì các trường hợp được coi là không có án tích thuộc phạm tội do lỗi vô ý, được miễn hình phạt, đưa vào trường giáo dưỡng, áp dụng biện pháp tư pháp. Hướng dẫn cũng không đề cập đến trường hợp người bị kết án nhưng được miễn trách nhiệm hình sự thì điều kiện cho hưởng án treo được quy định như thế nào? (có phải kéo dài 6 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyết định miễn trách nhiệm hình sự không?)

    Hiện nay, trên thực tế đối với trường hợp bị cáo có nhân thân đã từng phạm tội nhưng đã được xóa án tích, thì Tòa án thường căn cứ vào nhân thân đã từng phạm tội của bị cáo để đánh giá bị cáo là có “nhân thân xấu” và không cho hưởng án treo, mặc dù bị cáo đáp ứng đủ các tiêu chí để được hưởng án treo theo quy định. Điều này vô hình chung làm giảm đi mục đích, hiệu lực của hình phạt trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, do vậy cần có hướng dẫn về trường hợp người bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì không được xem là có nhân thân xấu và nếu đáp ứng đủ các điều kiện thì có thể cho hưởng án treo.

    2. Về trường hợp phạm tội nhiều lần không được hưởng án treo

    Tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02 quy định: Không cho hưởng án treo đối với trường hợp: “Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi”.Tuy nhiên trên thực tế có nhiều trường hợp phạm tội nhiều lần nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng, có khung hình phạt dưới 3 năm tù, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…đủ điều kiện để cho hưởng án treo nhưng đối chiếu với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì họ không được hưởng án treo.

    Ví dụ: Ngày 10/01/2021, Trần Văn H trộm cắp 01 chiếc xe đạp trị giá 2.000.000 đồng, ngày 15/01/2021, H trộm cắp số tiền 2.000.000 đồng, H bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng là “phạm tội từ 02 lần trở lên”, H có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ bị khuyết tật đặc biệt nặng đang điều trị, nhưng chiếu theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018 thì H cũng không được hưởng án treo, điều này vô hình chung gây bất lợi cho người phạm tội và không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước.

    Mặc dù, trên thực tế, Hội đồng xét xử có thể chuyển sang hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với H, tuy nhiên, cần có hướng dẫn rõ ràng trên thực tiễn, để có thể áp dụng án treo theo hướng có lợi cho người phạm tội, thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước ta và mục đích của hình phạt là nhằm giáo dục người phạm tội.

    3. Về tính thời gian thử thách đối với trường hợp bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó mà tại phiên tòa Hội đồng xét xử cho hưởng án treo

    Hiện nay, BLHS và Nghị quyết số 02/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đều không quy định việc trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với trường hợp bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trước khi xét xử, sau đó được tại ngoại và tại phiên tòa Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 BLHS và các quy định của pháp luật cho bị cáo được hưởng án treo. Điều này gây bất lợi cho bị cáo so với bị cáo khác không bị tạm giữ, tạm giam nhưng tại phiên tòa Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt là Án treo hoặc Cải tạo không giam giữ (thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ).

    Do vậy, theo quan điểm của người viết, để bảo đảm tính có lợi cho bị cáo, khi áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với trường hợp bị cáo trước đó đã bị tạm giữ, tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại còn phải chấp hành, thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành (không dưới một năm và không được quá năm năm).

    4. Về thời điểm tính thời gian thử thách của án treo

    Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách được xác định như sau:

    “1. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

    2. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

    3. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

    4. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    5. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.

    6. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

    7. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

    8. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm”.

    Hướng dẫn như trên của Nghị quyết là đầy đủ các trường hợp để tính thời thời gian thử thách của án treo.  Tuy nhiên, đối với trường hợp bị cáo được Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày nào thì chưa có hướng dẫn cụ thể, dẫn đến có hai quan điểm khác nhau.

    + Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lại.

    + Quan điểm thứ hai cho rằng: Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lần đầu. Người viết nhất trí như quan điểm này vì mặc dù Nghị quyết không hướng dẫn, nhưng vận dụng theo tinh thần của trường hợp thứ 4 và trường hợp thứ 5 của Nghị quyết và theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì như quan điểm thứ hai là phù hợp.

    5. Về thời hạn mở phiên họp giải quyết đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo

    Tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo quy định: “Thời hạn mở phiên họp không quá 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo”.

    Trong khi đó, khoản 4 Điều 90 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 quy định về thời hạn mở phiên họp giải quyết đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo quy định: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách”.

    Như vậy, căn cứ theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì thời hạn mở phiên họp là không quá 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, còn nếu căn cứ theo Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì thời hạn mở phiên họp là không quá 07 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, do vậy cần có hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng được thống nhất.

    6. Về điều kiện người được hưởng án treo phải “có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định” để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

    Để được hưởng án treo, ngoài các điều kiện bị xử phạt tù không quá 3 năm, có nhân thân tốt, có từ 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS trở lên…, thì Nghị quyết số 02/2018 hướng dẫn người phạm tội phải “có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định” để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Quy định này chưa thực sự rõ ràng và còn gây nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng pháp luật.

    Ví dụ: Trường hợp Nguyễn Văn A phạm tội ‘‘Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS, đã bồi thường khắc phục xong toàn bộ thiệt hại, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS, A là lao động tự do, công việc không ổn định, và không có nơi cư trú rõ ràng, tuy nhiên A được B là bác ruột có nơi cư trú rõ ràng bảo lãnh về nơi cư trú. Có hai quan điểm về áp dụng án treo đối với A.

    + Quan điểm thứ nhất cũng là quan điểm của người viết: Trường hợp này, A đã bồi thường khắc phục xong toàn bộ thiệt hại, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, mặc dù không có nơi cư trú rõ ràng nhưng đã được bác ruột là người có nơi cư trú rõ ràng bảo lãnh về nơi cư trú. Vì vậy, A có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

    + Quan điểm thứ hai: Mặc dù, A đã bồi thường khắc phục xong toàn bộ thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, không có tình tiết tăng nặng nhưng A không có nơi cư trú rõ ràng trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã, không có nơi làm việc ổn định. Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo, A không được hưởng án treo.

    *Trên đây là một số vướng mắc trong quá trình áp dụng Nghị quyết số 02/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo và một số quan điểm, kiến nghị của người viết trong quá trình nghiên cứu, đề nghị trong thời gian tới cơ quan các cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn sửa đổi, bổ sung để áp dụng án treo một cách thống nhất trên toàn hệ thống, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cũng như thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội khi thỏa mãn đầy đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật

    Hồ Quân

    Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

     
    647 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hiesutran159 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (29/04/2021)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận