Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

105 Trang «<102103104105>
  • Xem thêm     

    15/10/2010, 05:55:02 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn tôi tư vấn như sau:

    Được biết gia đình bạn đang sinh sống trên mảnh đất 80m2, sổ đỏ (Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản) đứng tên bố mẹ bạn. Bố bạn đã mất năm 1999  và ông nội bạn  mất năm 1996, năm 2004 bà nội bạn có viết một văn bản từ chối di sản thừa kế và chuyển phần đó cho mẹ bạn có sự xác nhận của UBND Phường.

    1. Bản từ chối di sản thừa kế đó vẫn hợp pháp nếu nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định cuả Pháp luật về hình thức lẫn nội dung.

    2. Tách quyền sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện sau:

    -          Phân chia tài sản chung đối với phần tài sản bố bạn để lại vì hiện tại thời hiệu chia di sản thừa kế đã hết. Văn bản phân chia tài sản chung này phải được sự đồng của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo điều 676 Bộ luật dân sự  và ký vào văn bản đó.

    -          Làm thủ tục đăng ký Quyền sử dụng đất cho người được chia tài sản chung.

    Từ các thủ tục trên bạn mới có thể chia tách quyền sử dụng đất được

    1. Sau 10 năm thời hiệu chia di sản thừa kế đã hết, bà bạn và các chú không được phép  khiếu kiện về phần di sản của bố bạn. Vì theo quy định tại #0070c0;">điều 676 khoản a Bộ luật dân sự 2005#0070c0;"> thì các chú bạn không thuộc hàng thừa kế thứ nhất mà chỉ có bà bạn được hưởng phần di sản đó, trong khi đó bà bạn đã làm văn bản từ chối phần di sản thừa kế đó rồi..

    Nếu bạn có gì thắc mắc thì bạn có thể trao đổi trực tiếp với tôi,

    Chúc bạn  may mắn và thành công!

    Trân trọng!

  • Xem thêm     

    29/08/2010, 05:29:01 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo điểm C điều 17 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 3/10/2006 quy định người nào lợi dụng trẻ em vào mục đích trục lợi, bắt trẻ em đi ăn xin, cho thuê, cho mượn trẻ em..., ngoài việc xử lý hành chính phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
  • Xem thêm     

    18/08/2010, 09:42:10 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn.
    Trường hợp của bạn tôi xin được trao đổi như sau:
    Trong Bộ luật hình sự không quy định rõ ràng về tội này mà tùy từng trường hợp có thể áp dụng vào các tội danh khác. Trường hợp bắt trẻ em với mục đích cho đi ăn xin để đem tiền về cho mình có lẽ chỉ xử lý hành chính, Theo điểm C điều 17 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 3/10/2006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về dân số trẻ em, người nào lợi dụng trẻ em vào mục đích trục lợi, bắt trẻ em đi ăn xin, cho thuê, cho mượn trẻ em..., ngoài việc xử lý hành chính phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
    Trân trọng chào bạn
  • Xem thêm     

    18/08/2010, 09:24:03 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Bạn có thể tham khảo Bộ luật hình sự Điều 101. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát Người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
    Cgúc bạn vui.
  • Xem thêm     

    26/06/2010, 11:51:56 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn hỏi đã có dấu hiệu phạm tội lừa đảo hay phạm tội tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bạn nên tố cáo hành vi này với cơ quan công an để được giải quyết theo pháp luật

  • Xem thêm     

    08/06/2010, 11:02:44 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào anh.

    Trường hợp của anh tôi xin được trao đổi như sau:

    Về thời hạn giải quyết vụ việc trên căn cứ vào Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về thời hạn điều tra của cơ quan Điều tra như sau:
     
    1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

    2. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

    a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

    b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

    c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

    d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

    Căn cứ vào các tình tiết của vụ án cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố điều tra vụ án nếu có đầy đủ căn cứ và dấu hiệu hình sự. Bởi vậy với thời hạn nêu trên chưa thể nói lên được điều gì, và anh cũng không nên nóng vội như vậy, vụ việc sẽ được cơ quan điều tra giải quyết theo đúng trình tự pháp luật

    Chào anh, chúc anh may mắn và thành công.
  • Xem thêm     

    07/06/2010, 03:01:42 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn.

    Rất vui khi nhận được sự tín nhiệm của bạn đối với tôi.

    Căn cứ vào những tình tiết mà bạn đã nêu ở trên, trường hợp của bạn tôi xin được trao đổi như sau:

    Thời hạn được ủy quyền theo hợp đồng đã xảy ra khá lâu, và thời hạn ủy quyền đã hết mà bên B đã không thực hiện được việc ủy quyền của mình, Bên A đã nộp tiền để bên B thực hiện nhưng bên bên A lại không thực hiện đúng theo nhiệm vụ ủy quyền của mình.

    Vấn đề ở đây là xác định lỗi của bên B, bên B đã không thực hiện đúng theo điều kiện đã cam kết với bên A. Nội dung hợp đồng không quy định rõ về việc phạt hợp đồng, không có quy định về việc trả lời về thù lao.

    Bởi vậy vấn đề ở đây là đòi được số tiền đã giao cho bên B để thực hiện công việc ủy quyền. Bên B không có căn cứ gì để đưa ra mình đã thực hiện việc ủy quyền của mình mặc dù đó chỉ là lời nói qua điện thoại, đó là 1 căn cứ để xác định lỗi do bên B chưa thực hiện công việc ủy quyền của mình.

    Việc đầu tiên hai bên có thể ngồi lại bàn bạc thỏa thuận với nhau để bồi hoàn số tiền bên B đã nhận. Trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án.

    Nếu có vấn đề thắc mắc bạn có thể liên lạc trực tiếp với tôi.

    Chào bạn, chúc bạn may mắn và thành công.
    Ls. Vũ Văn Toàn Mobile: 0978994377 Email: toanvuvan@gmail.com
  • Xem thêm     

    20/05/2010, 10:17:13 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn. Trường hợp của bạn tôi trao đổi như sau: Theo quy định của pháp luật trường hợp của bạn bắt buộc phải có hợp đồng chuyển nhượng thì mới có thể làm thủ tục chia tách được, bạn nên thương lượng với các thành viên trong gia đình đó để họ có thể tham gia ký hợp đồng vì đây là trường hợp mảnh đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể bỏ qua bước này được. Chào bạn, chúc bạn may mắn và thành công.
  • Xem thêm     

    27/04/2010, 10:36:29 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn
    Trường hợp của bạn sẽ được đền bù theo từng trường hợp cụ thể, bạn có thể tham khảo Quyết định 108/2009/QĐ-UBND ngày 29-9-2009 quy định bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà nội. Trong quyết định này quy đỉnh cụ thể trường hợp của bạn.

    Chúc bạn may mắn và thành công
  • Xem thêm     

    27/04/2010, 10:08:04 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn
    Trường hợp của em bạn trước tiên là phải khai báo trung thực với cơ quan công an. Sự thật như nội dung bạn viết thì chưa rõ ràng em bạn là người có đồng lõa hay không, khi Giang và Tình gây gổ nhau, em bạn có can ngăn hay không? Còn rất nhiều tình tiết để làm rõ em bạn có tội hay không có tội
    Nếu gia đình có nhu cầu thì liên hệ luật sư để được hướng dẫn chi tiết.

  • Xem thêm     

    25/04/2010, 04:33:10 CH | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn

    Rất cảm ơn sự tín nhiệm của bạn đối với tôi

    Trường hợp của bạn tôi xin trao đổi như sau:

    Nếu ba bạn không di chúc để lại thì quyền thừa kế mảnh đất 500m2 có tên bà vợ trước và anh con nuôi trong đó hay không?

    Căn cứ tại khoản 1 điều 675 Bộ luật dân sự (BLDS 2005) có quy định thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc. Vì vậy di sản của ba bạn sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

    Đồng thời, điểm a khoản 1 điều 676 BLDS 2005 có quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”; và khoản 2 điều 676 BLDS 2005 cũng quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

    Từ căn cứ trên có thể khẳng định như sau:

    Di sản của ba bạn sẽ được được chia làm ba phần: Mẹ bạn, bạn và anh con nuôi của ba bạn sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau, vì đây là tài sản của ông bà nội để lại nên phần tài sản này được tính là tài sản riêng của ba bạn, người vợ trước đã ly hôn thì đương nhiên không được hưởng phần di sản này.

    Để di chúc có đầy đủ cơ sở pháp lý thì cần những thủ tục gì?

    Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự thì Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

    Về hình thức của Di chúc, có thể lựa chọn 1 trong 3 loại Di chúc sau:

    - Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

    - Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

    - Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

    Để đảm bảo rằng Di chúc lập hợp pháp, cần lưu ý một số vấn đề sau:

    1. Đối với Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

    Di chúc phải ghi rõ: a) Ngày, tháng, năm lập di chúc; b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; c) Họ, tên người được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân được hưởng di sản; d) Di sản để lại và nơi có di sản; đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

    2. Đối với Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Trong trường hợp không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

    Nội dung di chúc có người làm chứng cũng phải ghi rõ như nội dung di chúc không có người làm chứng như chúng tôi vừa nêu trên.

    Về người làm chứng thì bất kỳ ai cũng có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

    - Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc

    - Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc

    - Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự

    3. Đối với Di chúc có công chứng hoặc chứng thực

    Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

    1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình.

    Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

    2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

    Về nguyên tắc thì cả 3 loại di chúc trên đều có giá trị pháp lý như nhau.

    Tuy nhiên, nếu hiểu biết pháp luật của người lập di chúc không đầy đủ dẫn đến việc lập di chúc không thỏa mãn các quy định của pháp luật thì khi có tranh chấp di chúc có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần, dẫn đến ý nguyện của người chết không được thực hiện, quyền lợi hợp pháp của người thừa kế theo di chúc không được đảm bảo.

    Do vậy, để di chúc hợp pháp người lập di chúc nên nhờ luật sư soạn thảo di chúc hoặc di chúc cần phải được công chứng, chứng thực theo quy định.

    Nếu có gì thắc mắc cụ thể bạn có thể liên hệ trực tiếp với tôi.

    Chào bạn

  • Xem thêm     

    15/04/2010, 12:01:18 CH | Trong chuyên mục Lao động

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn!

    Rất cảm ơn sự tín nhiệm của bạn đối với tôi. Trường hợp của bạn tôi xin trao đổi như sau:

    Căn cứ điểm a khoản 1 điều 85 Bộ luật lao động và theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất thì hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người lao động vi phạm một trong các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 của Bộ Luật Lao động, nếu hành vi vi phạm đó chưa có đầy đủ hoặc khó xác định chứng cứ thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh, kết luận để làm căn cứ xử lý kỷ luật.

    b) Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch, năm dương lịch.

    Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: bị thiên tai; hỏa hoạn; bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở y tế được thành lập hợp pháp, các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động".

    Trường hợp người lao động nghiện ma túy bị sa thải mà bạn nêu theo tôi nghĩ  cũng đã đầy đủ các yếu tố để sa thải nếu có đầy đủ các căn cứ và chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền đã nêu ở trên để làm căn cứ kỷ luật.

    Nhưng trước khi sa thải Công ty bạn nên thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục sa thải người lao động, trường hợp như bạn nêu tốt nhất Công ty bạn nên khuyên họ tự làm đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động, như thế có vẻ đảm bảo cho cả hai bên hơn.

    Chào bạn, chúc bạn thành công trong công việc.

    Nếu có gì thắc mắc cụ thể  bạn có thể liên hệ trực tiếp với tôi

    LS Vũ Văn Toàn

    Email: toanvuvan@gmail.com

    Mobile: 0978994377.

  • Xem thêm     

    12/04/2010, 04:20:04 CH | Trong chuyên mục Lao động

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn hỏi tôi trao đổi như sau:

    Bạn của bạn chỉ là trường hợp vay nợ dân sự, không vi phạm pháp luật công chức mà cũng không vi phạm quy định đạo đức nhà giáo, mà việc xử lý kỷ luật lại rất nặng. Việc xử lý kỷ luật phải căn cứ vào pháp lệnh công chức 2003, nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005, thông tư số 03/2006/TT-BNV, Quy định về đạo đức nhà giáo của Bộ giáo dục đào tạo.

    Bạn có thể khiếu nại đến cơ quan ra quyết định xử lý kỷ luật về trường hợp của mình.
    Chúc bạn may mắn và thành công.
    Chào bạn

    LS Vũ Văn Toàn
    Email: toanvuvan@gmail.com
    Mobile: 0978994377    
  • Xem thêm     

    06/04/2010, 04:35:38 CH | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn.

    Cám ơn bạn đã tín nhiệm sự tư vấn của tôi

    Trường hợp của bạn tôi xin tư vấn như sau:

    Bạn đã không nói rõ bạn là người Việt Nam có mang quốc tịch nước ngoài hay không, nếu bạn có quốc tịch Việt Nam thì thủ tục xin con nuôi rất dễ dàng, còn bạn có quốc tịch Mỹ thì sẽ phức tạp hơn rất nhiều.

    Việc xin con nuôi phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ ra đứa trẻ đó được thể hiện bằng giấy thỏa thuận về việc đồng ý cho con đang sống tại gia đình làm con nuôi

    Giả sử bạn nhận được đứa trẻ làm con nuôi thì việc đưa đi Mỹ hay không đã được thể hiện rõ bằng văn bản trong thủ tục xin con nuôi.

    Chào bạn.

    Chúc bạn may mắn và thành công

  • Xem thêm     

    24/02/2010, 04:49:56 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Chào bạn.
    Theo những căn cứ của bạn đưa ra, tôi trả lời tư vấn đối với tường hợp của bạn đưa ra như sau:
    I. Trường hợp hợp đồng thuê đất giữa hai bên có được công chứng hay không ?
    Điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định:
    Thời hạn thống nhất thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất bằng Giấy chứng nhận
    1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận mới được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
    2. Trường hợp trước ngày 01 tháng 11 năm 2007 người sử dụng đất đã nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

    Các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai là gồm:
    - Giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
    - Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
    - Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993;
    - Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
    Nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành mà vẫn chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp thì cũng được xem xét để giải quyết.

    II. Chi cục thuế ó bán hóa đơn không ?

    Tại điểm 2, Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi bổ sung Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn hướng dẫn: "Các hộ kinh doanh nộp thuế ổn định 6 tháng hoặc 1 năm không có nhu cầu sử dụng hóa đơn quyển; hộ kinh doanh vi phạm bị cơ quan thuế từ chối bán hóa đơn quyển và các hộ không có đăng ký kinh doanh, hoặc không phải là kinh doanh thường xuyên nhưng có phát sinh doanh thu về hàng hóa, dịch vụ, nếu có nhu cầu sử dụng hóa đơn sẽ được cơ quan Thuế cấp hóa đơn bán hàng lẻ (không thu tiền) để giao cho khách hàng."

    Từ những căn cứ  trên bạn có thể đối chiếu và so sánh với trường hợp của mình đưa ra,

    LS Vũ Văn Toàn . Mobile: 0978994377  . Email:  toanvuvan@gmail.com
  • Xem thêm     

    06/02/2010, 04:28:43 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    không có gì
  • Xem thêm     

    03/02/2010, 10:00:49 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Bạn tham khảo Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21-10-2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về trình tự, thủ tục đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất (QSDÐ), tài sản gắn liền với đất mà cụ thể là điều 26 có quy định rất rõ. Trân trọng! Luật sư Vũ Văn Toàn . Email: toanvuvan@gmail.com . Mobile: 0978994377
  • Xem thêm     

    03/02/2010, 09:11:09 CH | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung...

    Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được xem là tài sản chung. Căn cứ Điều 27 – Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

    Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Căn cứ Điều 32 – Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 (Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) và Điều 30 (Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng) của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân. Đồng thời Luật cũng quy định về việc Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

    Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn Căn cứ Điều 95 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn được xác định như sau: Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

    Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây: Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    Trên đây là ý kiến của Luật sư căn cứ vào quy định của pháp luật và các dữ kiện do chị cung cấp, trong trường hợp cần tư vấn cụ thể hơn, đề nghị chị liên hệ trực tiếp và cung cấp đầy đủ các dữ kiện.

    Trân trọng!
  • Xem thêm     

    28/01/2010, 11:59:03 SA | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Câu hỏi này đã được tôi trả lời giống như trên và hoàn toàn giống nhau về nội dung của cả câu hỏi lẫn câu trả lời.
  • Xem thêm     

    28/01/2010, 11:57:22 SA | Trong chuyên mục Hôn nhân, Thừa kế

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2127)
    Số điểm: 12090
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1500 lần
    Lawyer

    Bạn đã hỏi tôi một lần về vấn đề này và cũng đã hỏi rất nhiều luật sư và họ đã tư vấn cho bạn một cách rõ ràng trường hợp của bạn. Nay với câu hỏi mới của bạn "tòa án triệu tập anh ta không đến vạy tòa án có thể tự truy bắt anh ta được không" tôi xin trả lời như sau:

    Tòa án triệu tập anh ta không đến và tòa án không thể tự truy bắt anh ta đc vì đay là vụ án dân sự nên nó cũng phải tuân thủ theo quy định tố tụng trong bộ luật tố tụng dân sự. Trong Bộ luật tố tụng dân sự không quy định về điều này, nhưng tại khoản 2 điều 60 Bộ luật tố tụng dân sự có quy định: " Bị đơn đã triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án giải quyết vắng mặt bị đơn".

    Bởi vậy bạn cứ yên tâm khi căn cứ vào khoản 2 điều 200 BLTTDS: "Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ"
    Nếu có gì thắc mắc bạn liên hệ với tôi để được tư vấn một cách cụ thể hoen
    Chào bạn

    LS: Vũ Văn Toàn  Mobile: 0978994377  Email: toanvuvan@gmail.com

105 Trang «<102103104105>