Lệnh tạm giam có trước hay có sau quyết định khởi tố bị can?

Chủ đề   RSS   
  • #611332 09/05/2024

    lamtuyet9366
    Top 500
    Chồi

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:04/05/2024
    Tổng số bài viết (202)
    Số điểm: 1523
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 8 lần


    Lệnh tạm giam có trước hay có sau quyết định khởi tố bị can?

    Quy trình tạm giam và quyết định khởi tố bị can trong hình sự là quy trình pháp lý quan trọng để đảm bảo công bằng và bảo vệ quyền lợi của cá nhân trong quá trình tố tụng. Nhiều người thắc mắc rằng liệu lệnh tạm giam sẽ có trước hay sau khi có quyết định khởi tố bị can?

     
     

    (1) Lệnh tạm giam có trước hay có sau quyết định khởi tố bị can ?

    Bị can là gì?

    Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (quy định tại Điều 60 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

    Đối với khởi tố bị can, khởi tố bị can là một hành động tố tụng trong giai đoạn điều tra. Trong quá trình này, nếu có đủ căn cứ để xác định rằng một cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện hành vi được quy định là tội phạm theo Bộ luật Hình sự, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can cần được sự phê chuẩn từ Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

    Tạm giam là gì? Tạm giam áp dụng trong trường hợp nào?

    Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, biện pháp này nhằm cách ly một người ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định.

    Tạm giam áp dụng đối với các bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng, tội đặt biệt nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội ít nghiêm trọng.

    Căn cứ theo Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể như sau:

    - Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

    - Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

    Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

    Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

    Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

    Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

    - Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

    - Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

    Theo các quy định tại Điều 60Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, lệnh tạm giam có sau khi có quyết định khởi tố bị can. Tạm giam áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội ít nghiêm trọng trong trường hợp nhất định. Đồng thời, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Chính vì thế, lệnh tạm giam có sau khi có quyết định khởi tố bị can

    Thông thường, lệnh tạm giam sẽ được hủy bỏ trong trường hợp khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự ( Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

    (2) Thời hạn tạm giam để điều tra là bao lâu?

    Đối với các đối tượng khác nhau thì thời gian tạm giam sẽ được quy định khác nhau. Tại Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn tạm giam điều tra như sau:

    -  Tội phạm ít nghiêm trọng: thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng

    - Tội phạm nghiêm trọng: thời hạn tạm giam để điều tra không quá 03 tháng

    - Tội phạm rất nghiêm trọng: thời hạn tạm giam để điều tra không quá 04 tháng

    - Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: thời hạn tạm giam để điều tra không quá 04 tháng

    - Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

    Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

    - Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

    - Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

    - Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

    - Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

    Theo như quy định trên, thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Đối với vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì khi hết thời hạn tạm giam phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn.

    Trong hình sự, lệnh tạm giam có sau khi quyết định khởi tố bị can. Quy trình này đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách công bằng và minh bạch và bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan trong quá trình tố tụng hình sự.

     
    691 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận