Làm tiểu tam có vi phạm pháp luật không?

Chủ đề   RSS   
  • #610334 05/04/2024

    Làm tiểu tam có vi phạm pháp luật không?

    Gần đây, nhiều vụ việc “tiểu tam” ngang nhiên xen chân vào hôn nhân của người khác. Thậm chí, còn ghen ngược với “chính thất”. Như vậy, làm “tiểu tam” có vi phạm pháp luật không?

    1. “Tiểu tam” và “chính thất” là gì?

    - “Tiểu tam” (hay còn gọi là Tuesday, con giáp thứ 13, trà xanh, người thứ ba…) là từ dùng để chỉ những người phụ nữ xen vào mối quan hệ tình yêu, quan hệ hôn nhân của người khác nhằm phá vỡ hạnh phúc của người khác.

    - “Chính thất” là từ dùng để chỉ người vợ danh chính ngôn thuận, vợ hợp pháp trong mối quan hệ hôn nhân, ngay cả khi hai vợ chồng đang trong tình trạng ly thân.

    - Trong đó, theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, “hôn nhân” là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

    - Tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

    2. Làm tiểu tam có vi phạm pháp luật không?

    Ngoại tình được định nghĩa là sự không chung thủy, biểu hiện của hành vi này trên thực tế rất phong phú. Cụ thể dùng để đề cập đến việc một người đã kết hôn có tình cảm như vợ chồng với người khác không phải là người vợ chồng chính thức của họ hoặc một người độc thân có quan hệ tình dục với một người đã kết hôn.Không phải trường hợp ngoại tình nào cũng vi phạm pháp luật. Cụ thể như sau:

    - Nếu ngoại tình xuất hiện trong mối quan hệ yêu đương mà chưa tiến đến hôn nhân, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, thì chủ thể không vi phạm pháp luật.

    - Hành vi ngoại tình xuất hiện trong quan hệ hôn nhân đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ nhằm đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Chi tiết tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cấm hành vi sau đây nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

    Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

    Như vậy, làm “tiểu tam” đi phá hoại hạnh phúc gia đình người khác trong trường hợp kết hôn hay chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hay làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn thì trường hợp này là vi phạm pháp luật.

    3. Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm

    Đối với những trường hợp vi phạm nêu trên sẽ bị xử phạm theo quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

    - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    + Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

    + Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

    + Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

    + Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

    + Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

    Ngoài ra, căn cứ theo Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

    - Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    + Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.

    + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    + Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

    - Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

    Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành thì hành vi ngoại tình nêu tại khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP và Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015, có thể bị xử phạt hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, đối với trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt nêu trên.

     
    516 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận