Con dâu, con rể được hưởng thừa kế từ bố mẹ chồng, bố mẹ vợ trong trường hợp nào?

Chủ đề   RSS   
  • #560801 22/10/2020

    hiesutran159
    Top 100
    Male
    Lớp 9

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/10/2020
    Tổng số bài viết (692)
    Số điểm: 11623
    Cảm ơn: 29
    Được cảm ơn 742 lần


    Con dâu, con rể được hưởng thừa kế từ bố mẹ chồng, bố mẹ vợ trong trường hợp nào?

    Con dâu, con rể được hưởng thừa kế trong trường hợp nào

    Quyền hưởng thừa kế của con dâu, con rể - Ảnh minh họa

    Trong gia đình người Việt Nam, con dâu, con rể được xem là “người trong nhà”, có thể hiểu như một thành viên của gia đình chồng/vợ. Tuy nhiên, nếu bố mẹ chồng, bố mẹ vợ mất, họ có thể được hưởng thừa kế hay không?

    Chế định thừa kế theo Pháp luật về Dân sự của Việt Nam quy định 2 hình thức thừa kế: Thừa kế theo di chúc và Thừa kế theo pháp luật.

    Thứ nhất, về Thừa kế theo di chúc

    Thực hiện Thừa kế theo di chúc được quy định tại Chương XXII của Bộ luật Dân sự 2015. Về chế định thừa kế này, mấu chốt của việc thừa kế là tính hợp pháp và hiệu lực của di chúc, người được hưởng di chúc có thể là bất kì ai,điều này có nghĩa nếu người được thừa kế theo di chúc hoàn toàn có thể là con dâu, con rể.

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS), Di chúc hợp pháp khi có đủ những điều kiện sau:

    “a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

    b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”

    Như vậy khi Di chúc đáp ứng các điều kiện có hiệu lực, nếu người được để lại di chúc là con dâu con rể thì họ hoàn toàn có quyền hưởng thừa kế.

    Thứ hai, về Thừa kế theo pháp luật:

    Khoản 1 Điều 650 BLDS quy định Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi:

    a) Không có di chúc;

    b) Di chúc không hợp pháp;

    c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

    d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Khi áp dụng chế định thừa kế theo pháp luật, nguyên tắc tuân thủ thứ tự thừa kế theo hàng quy định tại Điều 651 BLDS như sau:

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Từ quy định trên, có thể thấy nếu người chết là bố mẹ chồng, bố mẹ vợ thì “con dâu, con rể” không nằm trong hàng thừa kế nào cả, nghĩa là theo nguyên tắc thừa kế thì con dâu, con rể không trực tiếp được hưởng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp này.

    Tuy nhiên, quan hệ giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân, được điều chỉnh bởi Pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Tại Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (LHNGĐ) quy định:

    “1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.”

    Như vậy có thể hiểu khi bước vào quan hệ hôn nhân, chế độ tài sản hoàn toàn có thể được thỏa thuận bởi vợ, chồng, điều này có nghĩa hai bên có thể thỏa thuận về quyền sở hữu những tài sản hình hành trong thời kỳ hôn nhân.

    Trường hợp một trong hai người được thừa kế theo pháp luật, pháp luật xác định tài sản được thừa kế là tài sản riêng của mỗi người, tuy nhiên việc thỏa thuận để xác định một tài sản nào đó là tài sản chung là hợp pháp (Điều 33 LHNGĐ có quy đình về “tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung). Theo quy định trên, có thể xem như khi vợ hoặc chồng đồng ý xác định tài sản thừa kế của mình cũng là tài sản của người kia (hoặc sẽ được chia cho người kia) thì việc hưởng thừa kế theo pháp luật cũng sẽ được áp dụng với con dâu, con rể.

    Như vậy, con dâu, con rể sẽ được nhận thừa kế từ bố mẹ chồng, bố mẹ vợ khi có di chúc hoặc có thỏa thuận với vợ, chồng của mình về việc cùng hưởng phần tài sản thừa kế theo pháp luật mà vợ, chồng mình được hưởng.

    Cập nhật bởi hiesutran159 ngày 22/10/2020 02:20:23 CH
     
    1535 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hiesutran159 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (22/10/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #561069   27/10/2020

    Special29
    Special29
    Top 200
    Female
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/12/2019
    Tổng số bài viết (425)
    Số điểm: 2980
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 63 lần


    Tuy nhiên, trường hợp con dâu, con rể được nhận thừa kế từ bố mẹ chồng, bố mẹ vợ khi có di chúc vẫn không được hưởng thừa kế nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015

     

    “Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

    1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

    a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

    b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

    c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

    d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

    2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”

     
    Báo quản trị |