Cách xác định tuổi đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chủ đề   RSS   
  • #610891 01/05/2024

    btrannguyen
    Top 200
    Lớp 6

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:13/03/2024
    Tổng số bài viết (457)
    Số điểm: 7718
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 140 lần


    Cách xác định tuổi đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

    Nếu tội phạm là người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) thì sẽ được áp dụng các thủ tục tố tụng đặc biệt để phù hợp với lứa tuổi này. Vậy, việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như thế nào?

    Cách xác định tuổi đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

    Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi:

    - Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

    - Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

    + Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

    + Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

    + Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

    + Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

    - Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

    Có thể thấy, trong các trường hợp không thể xác định được chính xác tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội thì pháp luật luôn quy định một cách có lợi nhất để có thể đảm bảo độ tuổi được xác định không nhỏ hơn tuổi thật của người đó.

    Những căn cứ nào dùng để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội?

    Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định về phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi như sau:

    - Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

    + Giấy chứng sinh;

    + Giấy khai sinh;

    + Chứng minh nhân dân;

    + Thẻ căn cước công dân;

    + Sổ hộ khẩu;

    + Hộ chiếu.

    - Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

    Như vậy, các căn cứ để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm: giấy chứng sinh, khai sinh, CMND, CCCD, sổ hộ khẩu, hộ chiếu. Nếu không xác định được qua các giấy tờ này thì phải có sự phối hợp với gia đình, người đại diện và các tổ chức khác.

    Người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì sẽ xử lý như thế nào?

    Theo Điều 103 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội như sau:

    - Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015.

    Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.

    - Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

    + Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định

    + Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định

    - Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

    + Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định

    + Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.

    Như vậy, khi người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa sẽ quyết định hình phạt với riêng từng tội và tổng hợp lại theo quy định.

    Việc tổng hợp tội phải đảm bảo mức hình phạt cao nhất đối với cải tạo không giam giữ không quá 03 năm, đối với tù có thời hạn không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.

     
    400 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận